Khi quan Cộng sản quỳ gối vái dân

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Bùi Tín

Bí thư đảng ủy đảng Cộng sản khu công nghiệp Tân Giang Trương Ái Hoa quỳ xuống xin lỗi người dân.

Ngày 19 tháng Tư, vài chục quan chức của thành phố Thái Châu, tỉnh Giang Tô (Trung Quốc), tổ chức một buổi tiệc lớn trong khu công nghiệp Tân Giang đang được mở rộng. Đây không phải là một sự kiện đáng được dư luận chú ý, nếu không có những diễn biến mà ấn bản Tiếng Anh Shanghai Daily của Thượng Hải Nhật Báo (số ra ngày 20 tháng Tư) nói là đã xảy ra sau đó.

Theo bản tin tiếng Việt của Nguyên Thúy dựa trên một bài tường thuật trên mạng China.org.cn và được đăng trên báo mạng Việt Nam Thanh Niên.online ngày 23 tháng Tư thì sau đây là những sự kiện đã gây chấn động trong dư luận địa phương:

Trong lúc bữa tiệc đang diễn ra trong phòng ăn lớn sang trọng của trụ sở Ban Quản lý Khu công nghiệp, hơn 1000 nông dân bất ngờ kéo tới tập trung trước cổng lớn. Kế đó họ đóng cổng không cho ai ra vào, rồi hò hét, giương biểu ngữ chống tham quan ô lại do chính đảng CS TQ đề xướng, đoạn xông vào giữa phòng tiệc, đồng thanh hô khẩu hiệu đả đảo tham nhũng.

Hoảng hốt trước khí thế căm giận hừng hực của dân chúng, các lực lượng bảo vệ lủi mất, có người đứng vào hàng ngũ những người phản đối. Quá khiếp sợ, quan chức cấp cao nhất trong bữa tiệc là bí thư đảng ủy đảng Cộng sản khu công nghiệp Tân Giang Trương Ái Hoa đột nhiên quỳ xuống, khiến các quan lớn nhỏ khác phát hoảng cũng quỳ theo,và tất cả đã vái lạy quần chúng nông dân, xin tha tội chết. Bài báo ghi lời của quan lớn họ Trương như sau: «Chúng tôi sai, các ông các bà bảo chúng tôi làm gì cũng được, nhưng xin cho chúng tôi ra khỏi nơi này ».

Nguyễn Hưng Quốc: Tôi không chống Cộng

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Nguyễn Hưng Quốc
Ở cả hai lần bị cấm nhập cảnh vào Việt Nam (11/2005 và 4/2009), tôi đều không nhận được lời giải thích thỏa đáng nào từ chính quyền Việt Nam. Nhưng tôi nghe được phong thanh đâu đó: người ta cho là tôi “chống Cộng”. Mà không phải từ phía chính quyền, một số bạn đọc ở hải ngoại, ngay cả những người có vẻ có cảm tình với tôi cũng thường nói: Tôi “chống Cộng”. Riêng tôi, xin nói một cách thành thực: Tôi không hề chống Cộng.

Viết thế, tôi biết nhiều bạn đọc sẽ ngạc nhiên. Tuy nhiên, trước khi đánh giá (hay chụp mũ), xin đọc tiếp phần giải thích phía dưới.

Tôi nói tôi không chống Cộng vì hai lý do chính:

Thứ nhất, tôi không thích chữ “chống”. “Chống”, trong tiếng Việt, khác với các từ hoặc từ tố được xem là tương đương trong tiếng Anh như “fight”, “against”, “counter-” hay “anti-”, thường gợi lên hai ấn tượng chính: một, gắn liền với tổ chức, và hai, có tính chất bạo động. Tôi không thích cả hai. Với bạo động, tôi tuyệt đối không thích. Với tổ chức, tôi trân trọng và nghĩ nó cần thiết, hơn nữa, một nhu cầu tất yếu trong đời sống xã hội, nhưng tôi lại không thích nằm trong bất cứ một tổ chức nào; thậm chí, tôi cũng chưa từng đi biểu tình hay ký tên vào bất cứ một kiến nghị chung nào (1), dù, trên nguyên tắc, có thể tôi đồng tình và ủng hộ những việc làm ấy. Tôi không làm những việc ấy chỉ vì một lý do đơn giản: Tôi không thích ở trong “đội ngũ”, dù lâu dài hay tạm thời, chính thức hay không chính thức. Vậy thôi. Khác với Chế Lan Viên, tác giả của câu thơ “Khi đứng riêng tây, ta thấy mình xấu hổ”, tôi chỉ thích đứng một mình. Khi phê phán bất cứ điều gì, tôi chỉ đứng từ góc độ một người trí thức; mà trí thức, tự bản chất, nói theo Edward W. Said, là kẻ lưu vong, nghĩa là, nói cách khác, một mình. Viết, tôi chỉ nhân danh chính mình và những gì mình tin là đúng. “Lực lượng” của tôi chỉ có sách vở và kinh nghiệm, kiến thức và lý trí, lương tâm và lương thức. Còn phương tiện, trước, với cây bút; sau, với bàn phím: Ở cả hai nơi, tôi chỉ có chữ. Hết.

Thứ hai, quan trọng hơn, ở thời điểm bây giờ, theo tôi, nói chống Cộng là nói chống cái không có, hay đúng hơn, cái không còn hiện hữu nữa.

Luận văn ở đại học: Đọc và ghi chép

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Nguyễn Hưng Quốc
1. Đọc như thế nào?

Dựa theo cách chỉ dẫn trong bài “Luận văn ở đại học: Tìm tài liệu”, sinh viên có thể tìm ra cả hàng chục cuốn sách cần phải đọc. Cho dù đã biết rõ cái gì cần đọc trước, cái gì cần đọc sau thì sinh viên vẫn phải đối diện với một vấn đề khác: làm sao để có thể đọc hết ngần ấy tài liệu? Sinh viên chỉ có mấy tuần để viết luận văn. Trong mấy tuần ấy sinh viên phải đi học, phải làm các bài tập và phải viết nhiều bài luận văn khác nhau. Làm sao để có thể đọc đủ các tài liệu cần thiết được?

Dĩ nhiên là có cách. Cách ấy nằm trong cách đọc của chúng ta. Nói chung, có ba cách đọc chính:

  • nghiền ngẫm
  • đọc lướt
  • đọc nhảy

1.1. Nghiền ngẫm:
Nghiền ngẫm là cách đọc từ từ, chậm rãi, cẩn thận; đọc từ trang đầu đến trang cuối, vừa đọc vừa suy nghĩ để hiểu hết mọi khía cạnh của vấn đề; vừa đọc vừa ghi chép. Đây là một cách đọc để học, chứ không phải để giải trí hay chỉ để cốt tìm tài liệu. Đối với bất cứ vấn đề gì, sinh viên cũng cần nghiền ngẫm ít nhất là vài tài liệu căn bản nhất, chủ yếu là các bài viết trong sách giáo khoa. Không có giai đoạn nghiền ngẫm này, sinh viên khó có thể nắm vững được vấn đề, do đó, khó mà nghiên cứu sâu rộng thêm được điều gì.

Nếu mỗi đề tài, sinh viên nghiền ngẫm khoảng hai chương sách, mỗi chương 20 trang, thì tổng cộng số trang cần phải đọc kỹ lên đến khoảng 40 trang. Nên thu xếp thì giờ để có khoảng một tuần lễ cho công việc này.

1.2. Đọc lướt:
Đọc lướt (skimming) là cách đọc thật nhanh, chỉ cần quét mắt lên các trang sách. Mục đích là để (i) nắm được đại ý của cuốn sách hay của bài báo; (ii) tìm hiểu cách nhìn của tác giả về vấn đề mình đang nghiên cứu để xem có thể sử dụng vào bài viết của mình được hay không; (iii) và để phát hiện những chi tiết trực tiếp liên quan đến đề tài của mình, những chi tiết mình có thể sử dụng trong bài viết.

Đọc lướt là đọc nhanh nhưng phải biết dừng lại ở một số trọng tâm. Các trọng tâm ấy là:

Vụ án và đạo luật Magnitsky

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Bùi Tín

Luật sư nhân quyền Nga Sergei Magnitsky

Quan hệ Hoa Kỳ – Nga đang trở nên khá căng thẳng.
Bất chấp những lời đe dọa và hành động ngăn cản ráo riết của bộ ngoại giao Nga, ngày 12/4/2013 Hoa Kỳ đã công bố danh sách 18 quan chức Nga sẽ không được cấp thị thực vào Hoa Kỳ và tài sản của họ trên đất Hoa Kỳ bị phong tỏa. Lý do? Họ bị Washington cáo buộc có dính dáng đến cái chết của Luật sư nhân quyền Nga Sergei Magnitsky trong một nhà tù ở Moscow tháng 11 năm 2009.

Vụ án Magnitsky khởi đầu từ năm 2008 khi Luật sư Sergei Magnitsky, lúc ấy 38 tuổi, tự đặt cho mình nghĩa vụ công dân chống bất công xã hội, tự mở cuộc điều tra thu lượm tài liệu, chứng cứ và công bố tình hình tham nhũng và gian lận, trốn thuế trong lãnh vực thuế khóa, cho rằng trong năm 2008 số tiền bị biển thủ, thất thu về thuế đã lên đến con số 250 triệu đôla. Ông cho biết ông có thể nêu tên một số quan chức các cấp của Nga đã phạm tội nếu chính quyền thật tâm chống tham nhũng.

Cộng đồng các nước Dân chủ

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Bùi Tín

Cựu Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan

Cộng đồng các nước dân chủ – Community of Democracies – là một tổ chức do Liên Hiệp Quốc khởi xướng từ năm 2000, đúng vào đầu thế kỷ 21, đến nay đã được hơn 12 năm. Hội nghị sáng lập ra tổ chức này được gọi là Hội nghị Varsawa do chính phủ Ba Lan tổ chức trong 3 ngày 25, 26 và 27 tháng 6 năm 2000 tại thủ đô Ba Lan. Hai nhà hoạt động chính trị có sáng kiến lập nên tổ chức quốc tế này là nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Ba Lan Branislaw Gérémek và nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Madeleine Albright.

Chính phủ 6 nước đầu tiên hưởng ứng sáng kiến trên đây gồm có: Chile, Tiệp Khắc, Ấn Độ, Mali, Bồ Đào Nha, và Nam Triều Tiên. Các nước này, cùng BaLan và Hoa Kỳ, được coi là 8 nước đồng sáng lập Cộng đồng các nước Dân chủ.

Hội nghị Varsawa đã thông qua Tuyên bố Varsawa nêu lên tôn chỉ và mục đích của Cộng đồng các nước Dân chủ, chỉ rõ những nguyên tắc và nội dung thực thi dân chủ cơ bản là:

– bầu cử tự do, bình đẳng, công bằng;
– tự do ngôn luận, tự do chính kiến;
– tự do tụ tập hòa bình.

Tháng Tư

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Nguyễn Hưng Quốc

Xe tăng của quân đội miền Bắc Việt Nam tiến vào dinh Ðộc Lập ngày 30/4/1975.

Tôi có tật ít nhớ ngày và nhớ tháng. Tôi chỉ nhớ thứ: Thứ hai, Thứ ba, Thứ tư, v.v.. Có lẽ lý do chính là vì tôi dạy học. Điều quan trọng nhất đối với người đi dạy là nhớ thứ mấy mình dạy từ mấy giờ đến mấy giờ. Thời khóa biểu in và dán trên bức tường ngay trước mặt cũng chỉ ghi giờ và ghi thứ. Còn ngày? Chả có gì quan trọng cả. Trừ ngày lễ, dĩ nhiên. Về tháng, tôi không để ý mấy, chủ yếu là do thời tiết ở Úc. Xin lưu ý, bình thường, đối với con người, tháng chỉ là một ý niệm khá trừu tượng, chỉ có mùa là cụ thể. Bởi nó gắn liền với khí hậu. Với những cơn nóng và cơn lạnh. Với những chiếc máy quạt (hoặc máy lạnh) và những chiếc áo ấm. Sống ở Việt Nam từ nhỏ đến trưởng thành, với tôi, tháng giêng, chẳng hạn, gắn liền với mùa xuân, với sự mát mẻ, với câu thơ của Xuân Diệu “tháng giêng ngon như một cặp môi gần”; tháng sáu, bảy và tám, với sự oi bức và với mùa nghỉ hè; tháng mười hai, với giá rét, với mùa đông và với Giáng sinh, hoặc (theo lịch ta), với Tết. Mối quan hệ ấy đã trở thành nếp trong đầu, hơn nữa, trên da thịt. Ở Úc thì khác. Tháng một lại là mùa hè và là mùa nghỉ hè; tháng sáu và bảy lại dịp nghỉ mùa đông. Mối quan hệ quen thuộc giữa tháng và mùa, bị lệch đi, chênh chao hẳn, khiến cho tôi, dù sống ở Úc cả mấy chục năm, cứ thường xuyên bị bối rối khi muốn nhớ đến tháng. Dĩ nhiên, nhìn trên lịch, vẫn biết. Nhưng cái biết ấy sao mà chông chênh, rất dễ bị vụt mất. Trong nhận thức, lúc nào cũng có cảm giác như đang bềnh bồng trong một không gian có mùa nhưng không có tháng.

Vậy mà, mấy tuần vừa rồi, tôi cứ hay bắt gặp mình, nhất là những lúc đang lái xe, lẩm nhẩm trong đầu bài thơ này của Nguyễn Khuyến:

Tháng Tư đầu mùa hạ
Tiết trời thực oi ả
Tiếng dế kêu thiết tha
Đàn muỗi bay lả tả
Nỗi ấy biết cùng ai
Nỗi này buồn cả dạ
Biếng nhắp năm canh chầy
Gà đã sớm giục giã.

Thoạt đầu, tôi không hiểu sao mình lại nhớ và ngâm nga bài thơ ấy. Thứ nhất, ở Úc, đang giữa mùa thu, trời bắt đầu trở lạnh, chả dính dáng gì đến mùa hạ cả. Thứ hai, đó cũng không phải là một bài thơ hay của Nguyễn Khuyến. Ít nhất không hay bằng mấy bài ông viết về mùa thu. Sau, tôi mới sực nhớ, yếu tố khiến tôi bị ám ảnh không chừng chỉ nằm ở chữ “Tháng Tư”.

Có lẽ từ trong tiềm thức, tôi đang nhớ đến ngày 30 Tháng Tư.

Nhưng khi nhớ đến ngày 30/4 và câu thơ “Tháng Tư đầu mùa hạ” của Nguyễn Khuyến cùng lúc, tôi lại đâm ra nghĩ ngợi.

Với người miền Nam, và sau này, cộng đồng người Việt ở hải ngoại, biến cố 30/4 được gọi tên theo tháng: Tháng Tư, lúc chính quyền miền Nam bị sụp đổ. Thỉnh thoảng, với một số người miền Trung hoặc một số người lính tham chiến ở miền Trung, biến cố ấy còn có tên khác: Tháng Ba. Thật ra, tên Tháng Ba chỉ trở thành phổ biến chủ yếu nhờ một tác phẩm: cuốn Tháng Ba gãy súng của Cao Xuân Huy. Đó là một trong vài cuốn hồi ký chiến tranh hay nhất và được nhiều người đọc nhất ở hải ngoại. Nhà văn Cao Xuân Huy (1947-2010), Trung úy Thủy quân lục chiến, lúc ấy đang đóng quân ở Quảng Trị. Đơn vị của ông bị vỡ trận ở đó, hơn một tháng trước khi Sài Gòn thất thủ. Tuy nhiên, chữ Tháng Ba rõ ràng không phổ biến bằng chữ Tháng Tư. Gọi Tháng Tư, chưa đủ, người Việt ở hải ngoại thêm một tính từ phía sau, thành “Tháng Tư Đen”. Cụm từ “Tháng Tư Đen” trở thành nhan đề của khá nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật, kể cả ca khúc, hơn nữa, của một số cuốn sách của người Tây phương, ví dụ, gần đây nhất, cuốn Black April: The Fall of South Saigon, 1973-75 của George Veith (2012). Đánh mấy chữ “tháng tư đen” trên Google, chúng ta sẽ thấy hiện lên cả trên một triệu kết quả.

Đất nước cựa mình làm nên lịch sử

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Bùi Tín
38 năm đã qua kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 lịch sử, «ngày hàng triệu người vui, hàng triệu người buồn», như nhiều người thường nói và thường nghĩ.

Đất nước bước vào thế kỷ mới – thế kỷ XXI – được hơn mười năm.

Tình hình hiện nay của đất nước ra sao? Đáng vui hay đáng buồn ? Rất nên là vấn đề giao lưu, tranh luận, đối thoại. Nhất là với các anh chị em tự khẳng định là «những công dân tự do» đang vẫy gọi nhau đến dự cuộc họp dã ngoại công khai ngày 5 tháng 5 tới ở Hà Nội, Sài Gòn, Nha Trang, có thể cả ở Đà Nẵng và Huế.

Với bài viết này, tôi xin được góp phần nhỏ bé của mình vào cuộc họp dã ngoại ấy ở trong nước, rất mong được các bạn trẻ bên nhà giúp tán phát và nếu có thể cho một vài hồi âm.

Đảng Cộng sản VN năm nay đang ở trong trạng thái nào? Đây là vấn đề rất nên luận bàn cho ra lẽ vì đảng CS tự nhận là lực lượng duy nhất cầm quyền hiện nay, và đang cố giữ khư khư Điều 4 của Hiến pháp như lá bùa hộ mệnh của mình, khi chính họ thừa nhận rằng niềm tin của nhân dân đối với đảng đã sa sút tệ hại do toàn đảng đã suy thoái một cách thảm hại không sao kìm hãm nỗi.

Điều trên đây, ai cũng thấy, và thấy quá rõ. Trong chiến tranh, do bị cách ly với thế giới, lại do bị tuyên truyền kiểu nhồi nhét một chiều, người dân thường bị đảng mê hoặc, coi đảng CS là «đảng ta», coi chế độ độc đảng là «chế độ ta», đồng hóa đảng CS với nhân dân và dân tộc. Nay thì không còn gì như trước nữa. Người dân thường nay gọi đảng CS là «họ», là «các ổng», có khi «là bọn chúng», «bọn họ», là «chúng nó», khác hẳn thời nhẹ dạ cả tin ngày xưa. Mà chính lãnh đạo đảng CS cũng xa rời nhân dân, coi nhân dân là kẻ thù, cắt cầu rút ván với trí thức, với nông dân, với tuổi trẻ, với lao động, với bà con các tôn giáo, không thèm giao lưu, đối thoại.

Nhân ngày 30-04 nghĩ gì về bức công hàm PVĐ 1958 ?

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Lê Quốc Trinh

A – Lời mở đầu
 
Bài viết này không có chủ ý biện hộ hay kết án cố thủ tướng Phạm Văn Đồng về sự kiện “bức công hàm 14/09/1958 liên quan đến HS-TS”, và cũng không muốn bàn tán thêm về chủ đề chủ quyền VN trên hai quần đảo này vì đã có quá nhiều luật gia và học giả khắp nơi ra sức tranh luận từ hơn 5 năm qua trong các trang mạng Internet.
 
Bài viết xin phép được trình bày một cách nhìn khác trung thực và sâu xa hơn về vấn đề Biển Đông nói riêng và lịch sử cận đại VN nói chung, trong đó Đảng Cộng Sản Việt Nam nam giữ một vai trò chủ chốt vô cùng quan trọng.
 
B- Dẫn chứng lịch sử VN xung quanh bức công hàm PVĐ 1958
 
Những dẫn chứng lịch sử xung quanh sự kiện HS-TS không có nhiều, thật ra chỉ có hai văn kiện chính thức mà mọi người có thể truy tìm trên Google một cách dễ dàng, tôi xin phép được trích dẫn ra đây hai bản văn kiện tối quan trọng, đó là:
 
1)- Văn kiện 1: Bức công hàm do cố thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng ký ngày 14/09/1958 lên tiếng ủng hộ tuyên bố của chính phủ Trung Quốc liên quan đến giới hạn và khu vực hải phận của TQ. Văn kiện này chính ông PVĐ đích thân ký tên, mang quốc huy, quốc hiệu VCDCCH, con dấu chính phủ, và do chính tay cố ngoại trưởng VN Ưng Văn Khiêm trao tay cho người đồng nhiệm phía TQ. Sau do công hàm PVĐ được nhật báo Nhân Dân chụp ảnh, in ấn nguyên bản và đăng công khai để người dân miền Bắc biết. Tuy nhiên không hề thấy báo Nhân Dân chụp ảnh và đăng “bản tuyên bố chủ quyền đất đai và vùng hải phận của TQ” mà công hàm PVĐ đã ghi nhận.

Tại sao phải trốn chạy hòa bình?

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Trịnh Hội
Ngày 30 Tháng Tư năm 2013 đánh dấu  kỷ niệm lần thứ 38 ngày Sài Gòn thất thủ, ngày Miền Nam Việt Nam bị Miền Bắc Cộng Sản tiêu diệt – hay thường được nhiều người gọi là ngày kết thúc cuộc chiến Việt  Nam. Nếu không có ngày này, tôi tin  rằng đã không có nhiều nhà hàng Việt Nam như hiện nay nơi bạn ở.

Những người Việt Nam tị nạn đi qua một chiếc tàu Hải quân Mỹ; Operation Frequent Wind là cuộc rút quân cuối cùng ở Sài Gòn ngày 29/4/1975. (Ảnh tư liệu của chính phủ liên bang Mỹ)

Và nếu không có ngày này thì chắc chắn tôi cũng đã không có mặt hôm nay tại nơi này để nói cho các bạn rõ về những gì đã xảy ra từ dạo đó.

Vì đã sinh sống qua gần 2 thập niên ở nước ngoài trước khi quyết định trở lại Việt Nam vào năm 2007, tôi thường được những người tôi gặp trong các chuyến đi của tôi trên thế giới hỏi tôi về thời gian tôi sinh sống ở Việt Nam trong thời kỳ  hậu chiến sau năm 1975 và về tình hình đất nước hiện nay, 38 năm sau. Điều thường khiến tôi ngạc nhiên nhất là khi tôi hỏi lại họ về những gì họ đã biết về đất nước tôi thì hình như chỉ có 2 phiên bản Việt Nam được nhắc tới.

Phiên bản  thứ nhất là một Việt Nam đẩy rẫy những câu chuyện kinh hoàng và những hình ảnh về một đất nước tan nát vì bị cuộc chiến do người Mỹ dẫn đầu tàn phá. Phiên bản thứ hai là một con hổ kinh tế đang trỗi dậy ở Viễn Đông, điểm đến “thời thượng” của những người trẻ trung và danh tiếng.

Brad Pitt và Angelina Jolie đã tiếp tục trở lại Việt Nam. À! trước đây không lâu họ còn nhận một em bé Việt Nam làm con nuôi và đặt tên cho em là Pax – Hòa Bình.  Trong khi hàng đoàn du khách ba-lô từ Úc, châu Âu  và khắp nước Mỹ đã thành tâm làm theo lời khuyên của sách hướng dẩn du lịch Lonely Planet để ghé thăm mọi nơi từ Hà Nội đến Thành phố Hồ Chí Minh, tên mới của Sài Gòn, để sững sờ trước nền văn hóa và cảnh sắc mỹ tú của đất nước này. Để nếm thữ hương vị một bát “phở” trước khi bắt đầu một ngày rong chơi với một ngân sách tiết kiệm. Họ đã có thể nhìn thấy tận mắt rằng bây giờ mọi thứ đều thanh bình, yên ổn  và dân chúng có vẻ hạnh phúc, hài lòng với vận mệnh mới của mình
.
Hay ít ra nó cũng có vẻ như vậy.

Cho đến khi tôi cho họ biết sự thật không hẳn vậy.

Như các bạn thấy, cũng giống như 2 triệu người Việt Nam khác đã rời bỏ đất nước từ cái ngày định mệnh đó 38 năm trước đây, gia đình tôi đã đến nước Úc như những người tỵ nạn, do hậu quả của cuộc chiến Việt Nam. Sự thật chúng tôi là một phần trong cuộc vượt thoát ồ ạt đầu tiên của người Việt Nam rời bỏ quê cha đất tổ.

Mặc dù đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh với nước Trung Hoa láng giềng ở phương bắc, mặc dù đã trải qua một trăm năm đấu tranh giành độc lập chống chủ nghĩa thực dân Pháp, và mặc dù đã là nạn nhân của một nạn đói khủng khiếp do người Nhật gây ra trong Thế chiến thứ II, tiếp  theo đó là Chiến tranh Việt Nam kéo dài cho đến năm 1975, người Việt nam đã luôn gắn bó với nơi chôn nhau cắt rốn và chấp nhận chịu đựng tất cả để chọn Việt Nam làm quê cha đất tổ.

Bất chấp mọi cuộc đổ máu. Bất chấp mọi mất mát, thiệt hại.

Nhưng, lần đầu tiên trong lịch sử của đất nước chúng tôi và chẳng bao lâu sau khi chiến tranh chấm dứt, người ta bắt đầu ra đi, thoạt tiên là từng nhóm nhỏ, rồi sau đó là hàng chục ngàn người. Họ đi bằng thuyền và đi bộ. Bất chấp mọi hiểm nguy trên biển cả và những gì đang chờ đợi họ tại bến bờ bên kia. Theo ước tính, từ 10% cho đến 30% tổng số thuyền nhân đã không  bao giờ được đặt chân lên đất liền. Từ 1975 đến 1997, khi cuộc vượt thoát ồ ạt chấm dứt, đã có khoảng 1 triệu người Việt Nam đến được các nước lân cận.

Điều này bắt buộc phải đặt ra câu hỏi: Tại sao họ lại phải trốn chạy hòa bình?
Câu trả lời rất đơn giản. Đó là ngay cả sau khi chiến tranh kết thúc và hòa bình được lập lại, sự thật và công lý chưa bao giờ thắng thế trên đất nước tôi. Báo cáo viên đặc biệt của LHQ về quyền tự do hội họp và lập hội, Ông Maina Kiai, mới đây đã gọi tình trạng này là một “cơn hôn mê hòa bình” (peace coma). Rằng nhân danh hòa bình, chúng ta đã cố tình làm ngơ trước những vi phạm trắng trợn nhất về quyền con người bởi các chế độ áp bức nhất trên thế giới hiện nay, trong đó có chế độ Cộng sản Việt Nam.

Luận văn ở đại học: Tìm tài liệu

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Nguyễn Hưng Quốc
Sau khi phác thảo dàn bài sơ khởi, sinh viên đã biết phần nào những tài liệu mình cần. Vấn đề là: tìm những tài liệu ấy ở đâu? Một số khá đông sinh viên có thói quen hay than thở: tài liệu liên quan đến đề tài mình viết quá hiếm hoặc thậm chí không có. Lời than thở ấy thường ít khi đúng sự thật.
Lý do là khi ra đề, phần lớn các thầy cô giáo đã kiểm tra trước để xem nguồn tài liệu mà sinh viên sẽ sử dụng cho bài viết của họ có đủ hay không.
1. Tìm tài liệu ở đâu?

Những cái được gọi là tài liệu thường rất đa dạng, bao gồm các dạng chính sau:

  1. Bài giảng ghi trong lớp (lecture notes)
  2. Sách giáo khoa (textbooks)
  3. Từ điển chuyên ngành (discipline dictionaries)
  4. Từ điển bách khoa (encyclopedia)
  5. Sách liên hệ đến đề tài
  6. Tạp chí
  7. Internet

a. Bài giảng ghi trong lớp:

Đây là tài liệu đầu tiên mà sinh viên cần đọc. Nó sẽ cung cấp cho sinh viên những thông tin căn bản nhất. Nó lại dễ hiểu hơn so với các loại tài liệu viết khác vì khi giảng trong lớp, các thầy cô giáo thường quảng diễn, cho nhiều ví dụ, vừa tầm với trình độ của sinh viên. Tuy nhiên, khi sử dụng bài giảng trong lớp, sinh viên

(i) nên xem đó như là một sự gợi ý tốt, chứ không nên chép nguyên vẹn bài giảng hay một phần của bài giảng vào luận văn của mình. Đó chỉ là cách làm của học sinh trung học. Nó dễ làm cho giáo sư có ấn tượng là mình lười biếng, thiếu công phu hoặc phương pháp nghiên cứu.

(ii) khi sử dụng một vài thông tin trong bài giảng thì khỏi cần ghi xuất xứ, khỏi cần ghi, đại khái kiểu “Theo bài giảng của thầy Nguyễn V.A. trong lớp ngày 20.4.2013…” vì hai lý do: một là, không có gì chắc mình hiểu đúng và ghi đúng ý của thầy cô giáo; hai là, kiến thức thầy cô giáo giảng trong lớp phần nhiều là thứ kiến thức tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, chứ chưa chắc đã là sáng kiến riêng của họ. Dĩ nhiên, nếu những bài giảng ấy đã được thầy cô giáo biên soạn và xuất bản chính thức thì việc ghi xuất xứ sẽ là điều bắt buộc.

Từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Nguyễn Hưng Quốc

Hai nghi can khủng bố Tamerlan Tsarnaev và Dzhokhar Tsarnaev trong đám đông gần mức đến của cuộc đua marathon ở Boston, ngày 15/4/2013.

Sau vụ đặt bom tại Boston ngày 15/4 cũng như cuộc truy lùng thủ phạm ngay sau đó, có khá nhiều điều chúng ta có thể học được. Ở đây, tôi chỉ xin nêu lên hai điều chính, một điều nhỏ và một điều lớn.

Xin nói chuyện nhỏ trước.

Vụ nổ bom tại cuộc thi marathon ở Boston xảy ra vào chiều Thứ Hai 15/4. Ba ngày sau, Thứ Năm 18/4, cơ quan FBI của Mỹ nhận diện được nghi phạm và công bố hình ảnh của hai nghi phạm trên các cơ quan truyền thông đại chúng cũng như các mạng xã hội. Việc công bố hình ảnh ấy khiến hai nghi phạm phải xuất đầu lộ diện. Ngay tối Thứ Năm, một trong hai nghi phạm đã bị bắn chết, và ngày hôm sau, Thứ Sáu 19/4, nghi phạm thứ hai bị bắt. Tổng cộng thời gian điều tra và giải quyết vụ án chưa tới năm ngày.

Nhớ, năm 1996, trong Olympic mùa hè, có một vụ nổ bom tại Atlanta, Georgia, Mỹ, làm cho một người chết và 111 người bị thương. Thoạt đầu, FBI nghi nhân viên an ninh, ông Richard Jewell, người báo tin về nguy cơ khủng bố, là thủ phạm. Cả tháng sau đó, họ mới nhận diện được thủ phạm chính là Eric Rudolph, và hai năm sau, hắn mới bị kết tội là thủ phạm của cuộc khủng bố trong một phiên tòa khiếm diện. Mãi đến tháng 5 năm 2003, Rudolph mới bị bắt và tháng 7 năm 2004 mới bị đưa ra tòa để cuối cùng lãnh án tù chung thân.

Tại sao cảnh sát và các cơ quan an ninh Mỹ tìm ra nghi phạm vụ nổ bom ở Boston nhanh chóng như vậy?

Lý do chính là nhờ các máy quay hình (video surveillance camera / CCTV camera) được đặt hầu như ở khắp nơi. Quốc gia có nhiều máy quay hình nơi công cộng nhất là Anh: Có khi chỉ trong một trạm xe lửa mà có đến 76 chiếc máy quay hình. Sau này Mỹ cũng đang cố gắng đuổi kịp Anh, ít nhất ở các thành phố lớn: Riêng khu Lower Manhattan ở New York đã có khoảng 3000 chiếc máy quay hình.

Tính chung, ở Anh và Mỹ, cứ mỗi 10 cư dân thì có một máy quay hình. Người ta ước tính mỗi người Anh trung bình bị chụp hình khoảng 300 lần một ngày. Bình thường, hiếm khi người ta xem các bức ảnh chụp được từ các máy quay hình ấy. Chỉ khi có biến cố gì đó, người ta mới lôi các thước phim ấy ra xem. Phim thường được quay từ nhiều góc độ và từ nhiều địa điểm khác nhau. Chỉ cần xem các thước phim ấy, người ta có thể lần ra ngay nghi phạm. Ví dụ, trong vụ đặt bom ở Boston, người ta nhìn thấy rõ ràng là có hai thanh niên, thoạt đầu, có đeo hai túi xách khá nặng sau lưng; nhưng sau đó, ở một nơi khác, nơi hai thanh niên ấy xuất hiện, hai túi xách ấy không còn nữa.

Mẫu số chung: Nhân quyền

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Bùi Tín

Gia đình nông dân Ðoàn Văn Vươn bị đưa ra xét xử tại Tòa án Nhân dân thành phố Hải Phòng, ngày 2/4/2013.

Các vấn đề thời sự Việt Nam nóng hổi hiện nay hầu như tập trung vào một mẫu số chung là Nhân quyền. Vụ án «Cống Rộc» vừa được xử sơ thẩm ở Hải Phòng, kết tội một cách khắc nghiệt những công dân lương thiện, nhẹ nhàng với các quan chức đảng tham ô là một bằng chứng sống động về tình trạng vi phạm nghiêm trọng Nhân quyền có hệ thống ở Việt Nam. Người công dân lương thiện cảm thấy bất an vì chính quyền và nền tư pháp độc đảng vẫn ngang nhiên chà đạp lên quyền sống tự do của con người.

Việc thảo luận về sửa đổi Hiến pháp theo kiểu cưỡng ép của lãnh đạo đảng Cộng sản, vừa đưa ra một bản dự thảo rồi coi mọi ý kiến khác biệt là suy thoái, là phản động, rồi cho phổ biến những con số bịa đặt, thổi phồng quá đáng – thoạt tiên là 20 triệu, kế đó là 22 triệu, phóng bừa lên 40 triệu, rồi 44 triệu ý kiến đồng tình – nay rút xuống còn 9 triệu, chỉ phơi bày thêm rõ nét tình trạng nhân phẩm, quyền tự do của con người bị chà đạp nghiêm trọng đến mức nào.

Cuộc đối thoại định kỳ về Nhân quyền giữa Hoa Kỳ và Việt Nam ngày càng nhạt nhẽo, đình đốn suốt năm 2012, cũng như quan hệ Việt Nam với Liên minh châu Âu gặp trở ngại cũng chỉ vì thành tích về Nhân quyền của Việt Nam đã liên tục tuột dốc trong 4 năm qua, khi đảng Cộng sản ngày càng ngả về phía Trung Quốc, giảm rõ nhiệt độ trong quan hệ với Hoa Kỳ và châu Âu. Lãnh đạo đảng Cộng sản không thể sử dụng chiến thuật ngoại giao «đi giây thăng bằng» giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ để che dấu chiến lược nhất quán «nhất biên đảo» của họ đối với Trung Quốc.