Lòng tin và sự xấu hổ

Video >> Học tiếng, Thế giới, Việt nam, Thư giãn, Thể thao, Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Nguyễn Hưng Quốc

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đọc diễn văn trong phiên họp khai mạc cuộc họp Shangri-La bàn về an ninh khu vực Đông Nam Á, ngày 31/5/2013.

Nhân nhắc đến khái niệm lòng tin chiến lược trong bài nói chuyện của ông Nguyễn Tấn Dũng, chúng ta thử bàn về chuyện lòng tin trong chính trị nói chung. Nói đến lòng tin, ở đây tôi chỉ muốn tập trung vào sự tin cậy (trust, chứ không phải faith hay belief) và chỉ giới hạn trong phạm vi chính trị đối nội, trong nội bộ một quốc gia.

Trước hết, hầu như ai cũng biết sự tin cậy là một trong những yếu tố quan trọng nhất để mọi người có thể sinh hoạt chung với nhau trong xã hội, từ phạm vi nhỏ và riêng tư nhất là gia đình và bạn bè đến những phạm vi lớn hơn như các cơ sở làm ăn buôn bán hoặc các đoàn thể và cuối cùng, sinh hoạt chính trị trong cả nước. Nền tảng của cái gọi là đạo đức công dân, thật ra, là vấn đề tin cậy: mình tin người khác và làm cho người khác tin mình bằng cách, trước hết, tự mình làm cho mình đáng tin cậy. Nền tảng của dân chủ, nghĩ cho cùng, cũng là sự tin cậy: tin cậy vào thiện chí của người khác và vào quyết định của đa số (biểu hiện cụ thể nhất là qua các lá phiếu).

Trong chính trị đối nội, lòng tin có ba loại: tin vào các nhà lãnh đạo, tin vào các tổ chức công quyền và tin vào cơ chế.

Trong các tổ chức công quyền, nổi bật nhất là lập pháp (tập trung vào Quốc hội – ở một số nước, có hai hình thức chính Thượng viện và Hạ viện), hành pháp (tập trung vào phủ Tổng thống và/hoặc văn phòng Thủ tướng) và tư pháp (qua hình ảnh của toà án cũng như công an). Ranh giới giữa lòng tin vào các nhà lãnh đạo và các tổ chức công quyền không hoàn toàn rạch ròi: Ở các cơ quan hành pháp, người ta có khuynh hướng nhìn vào người lãnh đạo cao nhất (tổng thống hoặc/và thủ tướng); còn ở các cơ quan khác, từ lập pháp đến tư pháp, vai trò tập thể nổi bật hơn vai trò của cá nhân, do đó, người ta có thói quen nhìn vào cả cơ quan hơn hơn là từng người cụ thể, ngay cả là người lãnh đạo cao nhất.

Đối với các nhà lãnh đạo, lòng tin cũng có nhiều loại: Một, tin vào cá tính và đạo đức của họ; và hai, tin vào lý tưởng cũng như các chính sách mà họ theo đuổi. Trong hai loại lòng tin ấy, cá tính của người lãnh đạo là yếu tố quan trọng đầu tiên, có vai trò thu hút quần chúng nhất. Không có cá tính mạnh và không có sức cuốn hút quần chúng, không ai có thể trở thành lãnh tụ được, nhất là ở các quốc gia dân chủ, nơi để trở thành lãnh tụ, người ta phải trải qua những cuộc tranh cử và bầu cử gay gắt, trước hết, trong nội bộ đảng, và sau đó, trong phạm vi quốc gia. Nhưng yếu tố đầu tiên này tức khắc trở thành thứ yếu khi người ta trở thành lãnh tụ thực sự. Khi trở thành lãnh tụ, yếu tố được quần chúng quan tâm nhất lại là lý tưởng và từ đó, chính sách của họ. Lý tưởng, vốn thường lớn và chung chung, là yếu tố đầu tiên để gây chú ý và sự đồng cảm. Tuy nhiên, yếu tố chính để quần chúng đánh giá giới lãnh đạo chính là đường lối và chính sách, tức những khía cạnh nhằm hiện thực hoá lý tưởng mà họ tuyên truyền. Đối với đường lối và chính sách, ba điều kiện căn bản nhất là: một, rõ ràng; hai, nhất quán; và ba, hiệu quả. Xuyên suốt từ đầu đến cuối, vấn đề đạo đức của nhà lãnh đạo luôn luôn là một vấn đề quan trọng. Có điều, ở đây là đạo đức công dân chứ không phải là đạo đức cá nhân. Những cái gọi là hiền lành, khiêm tốn, hòa nhã, dễ thương, mau nước mắt, v.v. đều thuộc loại đạo đức cá nhân. Là đạo đức cá nhân, chúng chỉ có ý nghĩa trong phạm vi liên-cá nhân, giữa người này và người khác, trong một không gian có giới hạn. Điều người ta quan tâm nhất ở nhà lãnh đạo là thứ đạo đức công dân, trong đó, nổi bật nhất là sự trong sạch, tinh thần trách nhiệm và tôn trọng pháp luật, bởi vậy, ba cái xấu thường dễ bị theo dõi và lên án nhất chính là tham nhũng, vô trách nhiệm và lạm dụng quyền hành.

Đối với các tổ chức, nội dung của cái gọi là lòng tin chỉ tập trung chủ yếu vào khía cạnh thực hành với hai nội dung chính: năng lực và tính hiệu quả. Tiêu chí để đánh giá việc thực hành là hiến pháp và luật pháp. Nói đến năng lực và tính hiệu quả của các cơ quan, người ta phải đối chiếu việc thực hành của các cơ quan ấy so với các quy định ghi trong hiến pháp và luật pháp. Nếu nhiệm vụ chính của công an, chẳng hạn, là bảo đảm an ninh và an toàn trong xã hội thì năng lực và tính hiệu quả của công an cần phải được đo lường và đánh giá trên mức độ tội phạm các loại trong xã hội.

Đối với cơ chế, lòng tin chủ yếu tập trung vào tính lý tưởng, tính hiệu quả và sự bền vững của nó.

Qua ba loại lòng tin ở trên, chúng ta có thể nhận thấy sự khác biệt giữa các xã hội dân chủ và các xã hội phi dân chủ.

Ở các xã hội dân chủ, từ Mỹ đến Úc và toàn bộ các quốc gia Tây Âu và Bắc Âu, dân chúng có thể mất lòng tin vào giới lãnh đạo hay các cơ quan công quyền, nhưng họ luôn luôn tin tưởng vào cơ chế. Cơ chế dân chủ mà họ thiết lập và hoàn thiện suốt cả trăm năm hoặc lâu hơn nữa không những có tính lý tưởng cao, phù hợp với những bảng giá trị phổ quát của nhân lại (tôn trọng tự do cá nhân và sự bình đẳng giữa mọi người cũng như tinh thần thượng tôn pháp luật) mà còn có tính hiệu quả trong việc vận hành kinh tế, an sinh xã hội và đặc biệt, quản trị đất nước. Hơn nữa, mọi người còn tin tưởng vào sự bền vững của nó: Một mặt, giới lãnh đạo hay các cơ quan công quyền có thể thay đổi, nhưng cơ chế dân chủ thì không; mặt khác, chính cơ chế ấy bảo đảm mọi sự thay đổi quyền lực đều diễn ra một cách êm thắm, không gây nên bất cứ một xáo trộn nào trong xã hội. Chính vì vậy, ở hầu hết các nước dân chủ, tâm lý quần chúng thường khá an tâm sau các cuộc bầu cử. Trong bầu cử, người ta có thể tranh đấu với nhau một cách dữ dội nhưng bầu cử xong, tuy có kẻ thắng người thua và tuy sẽ có những chính sách khác nhau, mọi người vẫn biết rõ một điều: tự do, dân chủ, nhân quyền và pháp chế vẫn được tôn trọng và duy trì. Dưới chính phủ mới, một số người có thể bị cắt bớt một phần trong các trợ cấp thất nghiệp hay trợ cấp xã hội, chẳng hạn, nhưng chắc chắn, sẽ không có ai bị bỏ đói, bị tước đoạt đất đai hay bị bắt bỏ tù một cách vô lý vì một số phát ngôn hay vì tham gia một cuộc biểu tình nào đó.

Cũng chính vì tin cậy vào cơ chế nên ở các quốc gia Tây phương, hầu như không ai nghĩ đến chuyện gây bạo loạn để lật đổ chính quyền. Mọi sự thay đổi, nếu có, đều diễn ra bên trong cơ chế, với các luật chơi gắn liền với cơ chế.

Ở các nước phi dân chủ, ngược lại, điều người ta ít tin nhất, lại là cơ chế. Thoạt đầu, chế độ phi dân chủ nào cũng khuếch đại tính lý tưởng của nó để thu phục nhân tâm. Nhiều người sẵn sàng tin và có người sẵn sàng hy sinh tính mạng để thực hiện các lý tưởng ấy. Nhưng cái thiếu nhất của các chế độ độc tài là tính hiệu quả. Khái niệm hiệu quả ở đây không chỉ giới hạn trong phạm vi kinh tế mà còn trải rộng ra mọi phạm vi khác, từ luật pháp đến xã hội, văn hóa, chính trị và nhân quyền. Cứ nói mãi đến tự do nhưng đi đâu cũng đối đầu với công an, lúc nào cũng có nguy cơ bị công an còng tay hay đạp vào mặt; cứ nói mãi đến dân chủ, nhưng tranh cử thì hạn chế, bầu cử thì gian lận, bộ máy công quyền đều được giao phó cho những kẻ bất tài nhưng có nhiều “quan hệ”… dần dần người ta sẽ mất hết niềm tin. Chính vì có sự trái ngược giữa tính lý tưởng và tính hiệu quả như vậy, mọi chế độ độc tài đều thiếu hẳn tính ổn định và bền vững. Kiểu tuyên truyền ưu tiên cho ổn định ở các nước độc tài, trong đó có Việt Nam, là một lối ngụy biện đầy nghịch lý, bởi, tự bản chất, đã độc tài thì không thể ổn định, và vì không ổn định, nó cũng không thể bền vững.

Đó chính là tình trạng ở Việt Nam hiện nay.

Lần lượt, nhiều người, ngay cả những kẻ từng cúc cung phục vụ chế độ gần như cả đời, đều nhận ra một điểm: tất cả các khuyết điểm ở Việt Nam đều bắt rễ từ một cái lỗi chính, có người gọi là “lỗi hệ thống”. Lỗi hệ thống tức là lỗi ở cơ chế. Lỗi ở cơ chế chủ yếu là lỗi ở ba khía cạnh: một, phương thức lên cầm quyền (thường, một cách chính đáng, phải gắn liền với các cuộc bầu cử tự do); hai, ở phương thức phân quyền (yêu cầu tối thiểu là tính chất độc lập của tư pháp, và đằng sau nó, lực lượng công an); và ba, phương thức kiểm soát quyền lực (chỉ đáng tin cậy khi, thứ nhất, người kiểm soát độc lập với người bị/được kiểm soát; và thứ hai, từ nhiều nguồn khác nhau. Ở Tây phương, cơ cấu kiểm soát quyền lực thường chằng chịt nhiều tầng và từ nhiều góc độ khác nhau, từ tư pháp đến truyền thông, các tổ chức chính trị đối lập, các tổ chức phi chính phủ và, bàng bạc khắp nơi, dân chúng).

Lâu nay, dường như chính quyền Việt Nam cảm thấy tuyệt vọng trong việc củng cố lòng tin của dân chúng vào cơ chế nên bộ máy tuyên truyền của họ thường hiếm khi đề cập đến cơ chế, vốn gắn liền với chế độ. Họ chỉ sử dụng biện pháp tiêu cực là cấm đoán việc phê phán cơ chế hoặc lâu lâu vẽ vời vài chuyện nhăng nhít (trong đó, mới nhất là việc bỏ phiếu tín nhiệm giới lãnh đạo) để mị dân hoặc lừa dân với ảo tưởng là cơ chế ấy đang trong tiến trình tự hoàn thiện. Nhưng cố gắng xây dựng lòng tin dựa trên lời hứa hẹn là nó đang tự thay đổi và hoàn thiện chỉ là một trò chơi nửa vời của những kẻ đang biết là mình thua cuộc. Nó thiếu hẳn tự tin. Và cũng thiếu lòng tin ở cơ chế.

Trước đây, bộ máy đảng và chính quyền tập trung thật nhiều công sức vào việc gây dựng lòng tin vào các nhà lãnh đạo bằng cách thần thánh hóa, hoặc ít nhất, thần tượng hóa một người nào đó, trước là Hồ Chí Minh, sau là Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp. Nhưng với giới lãnh đạo thuộc các thế hệ sau, các nỗ lức ấy bị biến thành tuyệt vọng ngay cả trước khi họ bắt đầu thực hiện. Lý do chính, tôi nghĩ, là do sự phát triển của truyền thông. Với thế hệ lãnh đạo đầu tiên, việc thần thánh hóa tương đối dễ: dưới mắt dân chúng, ông Hồ Chí Minh, chẳng hạn, lâu lâu mới thoáng qua một lần. Toàn bộ hình ảnh của ông là do các cán bộ tuyên truyền hoặc chính ông vẽ ra. Không ai có thể kiểm tra được cả. Giới lãnh đạo gần đây, đi đâu cũng có các ống kính chĩa vào ghi hình và ghi âm, rất dễ bộc lộ những sự hớ hênh trong cả trí tuệ lẫn nhân cách. Huống gì hầu hết các nhà lãnh đạo gần đây đều thuộc loại kém cỏi. Họ khó đủ sức để giữ được lòng tin của quần chúng.

Dĩ nhiên, nói đến lòng tin của dân chúng đối với lãnh đạo Việt Nam, chúng ta khó tìm ra một bằng chứng cụ thể nào để phân tích. Bầu cử thì gian lận; các cuộc điều tra dư luận thì bị cấm đoán, mọi cố gắng tìm kiếm số liệu đều trở thành vô vọng. Nhưng ít nhất cũng có một số người biết chắc chắn là dân chúng không tin giới lãnh đạo: Đó chính là giới lãnh đạo hiện nay. Biết, nên họ sợ và tìm mọi cách để tránh né việc đối đầu với việc bày tỏ cách đánh giá của dân chúng. Họ biết chắc chắn một điều: nếu để dân chúng tự do bộc lộ lòng tin, họ sẽ chỉ đạt được số âm.

Như vậy, ở đây, chúng ta lại thấy một khía cạnh khác: Ở Việt Nam, không phải chỉ có việc dân chúng mất lòng tin vào cơ chế, cơ quan công quyền và giới lãnh đạo mà còn có hiện tượng bản thân giới lãnh đạo cũng không tin vào cơ chế và đặc biệt, vào quần chúng. Họ không bao giờ dám để dân chúng phát biểu một cách tự do và trung thực. Họ cũng không dám để dân chúng được tự do lựa chọn. Đây đó, họ giải thích lý do tại sao Việt Nam không thể đa đảng: đa đảng sẽ gây nên hỗn loạn. Tại sao đa đảng, ở các nơi khác không gây nên hỗn loạn mà ở Việt Nam thì có? Họ trả lời: Tại dân trí Việt Nam còn thấp! Nói thế tức là không tin vào trí tuệ, vào phán đoán, và cuối cùng, sự lựa chọn của dân chúng.

Trên diễn đàn quốc tế, giới lãnh đạo Việt Nam nói đến lòng tin, nhưng một trong những bi kịch lớn nhất ở Việt Nam là không ai tin ai cả. Trong quan hệ xã hội, người ta không tin nhau. Trong quan hệ chính trị, dân chúng không tin nhà cầm quyền và nhà cầm quyền, ngược lại, cũng không tin dân chúng. Khi lòng tin bị đánh mất, yếu tố thống trị mọi quan hệ xã hội và chính trị chỉ còn là sự giả dối.

Giả dối thì ở đâu cũng có, nhưng ở Việt Nam, sự giả dối có hai điểm đặc biệt: Thứ nhất, nó không phải chỉ hiện diện, thậm chí, không phải chỉ phổ biến mà còn thống trị mọi sinh hoạt và mọi loại quan hệ; và thứ hai, chính vì tính chất thống trị ấy, nó trở thành một điều bình thường, không còn làm cho ai xấu hổ cả.

Không có một xã hội nào có thể lành mạnh nếu thiếu sự tin cậy và không có một nền đạo đức nào có thể đứng vững nếu thiếu sự xấu hổ.

Tiếc, Việt Nam thiếu cả hai.
Nguyễn Hưng Quốc

Thiếu tín nhiệm: Lời cảnh báo đối với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng?

Video >> Học tiếng, Thế giới, Việt nam, Thư giãn, Thể thao, Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng được 210 đại biểu bỏ phiếu tín nhiệm cao, 122 phiếu tín nhiệm và 160 phiếu tín nhiệm thấp, đứng sau Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.

Hôm nay, Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng phải đối mặt lần đầu tiên với một đòn nặng công khai hiếm thấy, với số phiếu tín nhiệm cao chưa tới phân nửa số đại biểu ở Quốc hội.

Đó là lời mở đầu của bản tin của hãng thông tấn Reuters hôm nay sau khi kết quả cuộc bỏ phiếu tín nhiệm đầu tiên tại Việt Nam được công bố vào sáng hôm nay.

Theo trang mạng VnExpress, kết quả cuộc bỏ phiếu tín nhiệm 47 chức danh vừa hoàn tất cho thấy Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng được 210 đại biểu bỏ phiếu tín nhiệm cao, 122 phiếu tín nhiệm và 160 phiếu tín nhiệm thấp, đứng sau Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, với 330 phiếu tín nhiệm cao, 133 phiếu tín nhiệm và 28 phiếu tín nhiệm thấp trong tổng số 492 đại biểu có mặt.

Bản tin nói rằng mặc dù Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng vượt qua cuộc trắc nghiệm, các nhà phân tích cho rằng kết quả không mấy nhiệt tình của các đại biểu quốc hội thuộc một đảng vốn theo truyền thống, vẫn đoàn kết sau lưng lãnh đạo, là một chỉ dấu về sự bất mãn lan rộng về cách chính phủ xử lý nạn tham nhũng, và về sự trì trệ của một nền kinh tế một thời rất năng động.

Reuters ghi nhận việc giới lãnh đạo Việt Nam được đánh giá công khai trong cuộc bỏ phiếu tín nhiệm như thế này là điều vô cùng hiếm hoi, xuất phát từ lời kêu gọi của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hồi năm ngoái, đòi các nhà lãnh đạo phải chịu trách nhiệm nhiều hơn, giữa lúc phẫn nộ đang dâng cao về nạn tham nhũng và quản lý kinh tế yếu kém.

Reuters trích dẫn lời Tiến sĩ Nguyễn Quang A, nói rằng kết quả bỏ phiếu tín nhiệm phản ánh sự bất mãn về cách quản lý kinh tế và hệ thống ngân hàng. Ông cho rằng cuộc bỏ phiếu tín nhiệm có mục đích xoa dịu công chúng, trong khi không đe dọa sẽ thay đổi hiện trạng.

Hãng tin tài chánh Bloomberg cũng nhận định rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam đang phải đối phó với nỗi bất mãn ngày càng tăng vì đã không kiềm chế được nạn tham nhũng, trong khi nền kinh tế hồi năm ngoái tăng trưởng ở mức chậm nhất trong vòng 13 năm qua.

Tin của Bloomberg trích nguồn tin của Quỹ tiền tệ Quốc tế nói rằng Việt Nam nhắm mục tiêu tăng trưởng 5,5% trong năm nay, và đây sẽ là lần đầu tiên trong 3 năm liên tiếp, đà tăng trưởng nằm dưới mức 6% tính từ năm 1988.

Chính phủ Việt Nam đang tìm cách cải cách lĩnh vực ngân hàng đang bị nợ xấu đè nặng, và áp lực phải tăng hiệu quả của các công ty do nhà nước sở hữu.

Nhân vật được tín nhiệm nhất trong 47 chức danh chủ chốt, là bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Phó Chủ tịch quốc hội, với 372 phiếu tín nhiệm cao. Người ít được tín nhiệm nhất là ông Nguyễn văn Bình, Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước, chỉ đạt được 209 phiếu.

Bloomberg trích lời ông Jonathan London, giáo sư trường Đại học Thành phố Hong Kong, nói rằng cuộc bỏ phiếu tín nhiệm trao một tiếng nói cho quốc hội, và theo ông, có khả năng xảy ra “những thay đổi đáng kể trên chính trường Việt Nam nội trong 5 năm tới”, điều mà ông nói trước đây, ông không tin tưởng có thể xảy ra.

VOA: Lãnh đạo VN đối mặt với cuộc bỏ phiếu tín nhiệm đầu tiên

Nhạc: Ngải Vị Vị – Ai Weiwei – Dumbass (Explicit) – Heavy metal version

Video >> Học tiếng, Thế giới, Việt nam, Thư giãn, Thể thao, Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL


LeFigaro.fr



Ai Weiwei:

– Dumbass (Explicit) – Heavy metal version

Mỗi Người Chúng Ta Là Một Chiến Sĩ Thông Tin

>> NGUỒN http://www.youtube.com/watch?v=4ACj86DKfWs

Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ đòi đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC

Video >> Học tiếng, Thế giới, Việt nam, Thư giãn, Thể thao, Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ, dân biểu Ed Royce, đề xuất nghị quyết kêu gọi Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách Quốc gia cần Đặc biệt Quan tâm CPC vì các vi phạm trầm trọng của chính phủ Hà Nội trong lĩnh vực tự do tôn giáo.

Dân biểu Ed Royce, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ nhận xét "tình hình nhân quyền ở Việt Nam vẫn rất tồi tệ” và “thụt lùi”.


Nghị quyết HR. 218 được trình ra Hạ viện hôm 16/5 mạnh mẽ lên án các vi phạm “tiếp diễn và quá đáng” tại Việt Nam bao gồm việc giam cầm các lãnh đạo tôn giáo và bỏ tù dài hạn các cá nhân đấu tranh cổ xúy nhân quyền một cách ôn hòa.

Nghị quyết kêu gọi Việt Nam hủy bỏ các cấm đoán-hạn chế trong lĩnh vực tự do tôn giáo, chấm dứt việc tước đoạt tài sản của các giáo hội, thực thi các cải cách pháp lý và chính trị cần thiết để bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng của công dân.

Việt Nam đàn áp gần như mọi quyền con người bao gồm quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, và tự do tôn giáo…
Dân biểu Ed Royce.

Dự luật về Việt Nam có vượt qua được Thượng viện Mỹ?

Video >> Học tiếng, Thế giới, Việt nam, Thư giãn, Thể thao, Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Ông Smith bày tỏ hy vọng và lạc quan với VOA Việt Ngữ rằng dự luật lần này sẽ qua được Thượng viện.

Một dự luật thúc đẩy tự do và nhân quyền có tên gọi Dự luật Nhân quyền Việt Nam 2013 đã được công bố hôm nay tại Quốc hội Hoa Kỳ.

Dự luật này do dân biểu Chris Smith chủ xướng với đồng bảo trợ là các nhà lập pháp quan tâm tới tình hình chính trị Việt Nam như ông Ed Royce và Frank Wolf.

Trả lời riêng VOA Việt Ngữ bên lề buổi công bố, ông Smith cho biết dự luật đưa ra năm nay có nhiều điểm giống với năm ngoái.

Dân biểu này nói: “Những điểm chính trong dự luật lần này bao gồm việc ngưng các khoản viện trợ phi nhân đạo cho Việt Nam ở mức của năm 2012 cho tới khi nào có các tiến bộ quan trọng và nghiêm túc trong lĩnh vực nhân quyền, gồm có việc thả tù nhân chính trị và tôn trọng quyền tự do tôn giáo. Ngoài ra, dự luật còn đề cập tới vấn nạn buôn người đang ngày càng xấu đi tại Việt Nam. Chúng tôi cũng kêu gọi Tòa Bạch Ốc liệt Việt Nam vào danh sách Các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về vấn đề tự do tôn giáo”.

Nhà ngoại giao kỳ cựu người Mỹ, ông Grover Joseph Rees, là một trong những người lên phát biểu ủng hộ tại buổi lễ công bố.

Tôi nghĩ rằng năm nay dân biểu Chris Smith hy vọng rằng Thượng viện quan tâm nhiều hơn nữa để thúc đẩy nhân quyền ở Việt Nam, thay vì chỉ có chú trọng tập trung duy trì mối quan hệ thân cận với chính phủ nước này bằng mọi giá.
Ông Grover Joseph Rees nói.

Đất nước cựa mình làm nên lịch sử

Video >> Học tiếng, Thế giới, Việt nam, Thư giãn, Thể thao, Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Bùi Tín
38 năm đã qua kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 lịch sử, «ngày hàng triệu người vui, hàng triệu người buồn», như nhiều người thường nói và thường nghĩ.

Đất nước bước vào thế kỷ mới – thế kỷ XXI – được hơn mười năm.

Tình hình hiện nay của đất nước ra sao? Đáng vui hay đáng buồn ? Rất nên là vấn đề giao lưu, tranh luận, đối thoại. Nhất là với các anh chị em tự khẳng định là «những công dân tự do» đang vẫy gọi nhau đến dự cuộc họp dã ngoại công khai ngày 5 tháng 5 tới ở Hà Nội, Sài Gòn, Nha Trang, có thể cả ở Đà Nẵng và Huế.

Với bài viết này, tôi xin được góp phần nhỏ bé của mình vào cuộc họp dã ngoại ấy ở trong nước, rất mong được các bạn trẻ bên nhà giúp tán phát và nếu có thể cho một vài hồi âm.

Đảng Cộng sản VN năm nay đang ở trong trạng thái nào? Đây là vấn đề rất nên luận bàn cho ra lẽ vì đảng CS tự nhận là lực lượng duy nhất cầm quyền hiện nay, và đang cố giữ khư khư Điều 4 của Hiến pháp như lá bùa hộ mệnh của mình, khi chính họ thừa nhận rằng niềm tin của nhân dân đối với đảng đã sa sút tệ hại do toàn đảng đã suy thoái một cách thảm hại không sao kìm hãm nỗi.

Điều trên đây, ai cũng thấy, và thấy quá rõ. Trong chiến tranh, do bị cách ly với thế giới, lại do bị tuyên truyền kiểu nhồi nhét một chiều, người dân thường bị đảng mê hoặc, coi đảng CS là «đảng ta», coi chế độ độc đảng là «chế độ ta», đồng hóa đảng CS với nhân dân và dân tộc. Nay thì không còn gì như trước nữa. Người dân thường nay gọi đảng CS là «họ», là «các ổng», có khi «là bọn chúng», «bọn họ», là «chúng nó», khác hẳn thời nhẹ dạ cả tin ngày xưa. Mà chính lãnh đạo đảng CS cũng xa rời nhân dân, coi nhân dân là kẻ thù, cắt cầu rút ván với trí thức, với nông dân, với tuổi trẻ, với lao động, với bà con các tôn giáo, không thèm giao lưu, đối thoại.

Truyền hình vệ tinh VOA Asia 27/4/2013

Video >> Học tiếng, Thế giới, Việt nam, Thư giãn, Thể thao, Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Truyền hình vệ tinh VOA Asia 27/4/2013

Những quái thai của Marx

Video >> Học tiếng, Thế giới, Việt nam, Thư giãn, Thể thao, Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Nguyễn Hưng Quốc
Có rất nhiều điểm tôi không đồng ý với Karl Marx, nhưng thành thực mà nói, tôi rất phục ông, và có lúc, rất thích ông. Với tôi, ông là triết gia tiêu biểu nhất của chủ nghĩa hiện đại với tham vọng, bằng thuyết biện chứng và duy vật lịch sử, xây dựng một đại tự sự (grand narrative) hoàn chỉnh về lịch sử và thế giới, qua đó, giải thích hầu như toàn bộ mọi khía cạnh lớn liên quan đến đời sống xã hội và sự phát triển của loài người.

Lãnh tụ Bắc Triều Tiên Kim Chính Ân (Kim Jong Un).

Tham vọng ấy được bổ sung bằng một tham vọng khác lớn không kém: muốn thay đổi thế giới. Đằng sau hai tham vọng ấy là một khao khát mang đầy tính đạo lý về sự công bằng và công chính cho tất cả mọi người.

Về hai tham vọng của Karl Marx, các nhà hậu hiện đại (postmodernist) đã chứng minh đó chỉ là một ảo tưởng khi cho thời đại của các đại tự sự đã qua; lịch sử các nước xã hội chủ nghĩa từ Đông Âu đến châu Á chứng minh thêm: đó là một ảo tưởng đầy tai họa dẫn đến những cái chết thảm khốc của cả hàng trăm triệu người và sự đau khổ của cả tỉ người khác. Xuất phát từ sự khao khát công bằng và công chính cho mọi người, lý thuyết của Marx lại đẻ ra những chế độ độc tài và tàn bạo không thua bất cứ một chế độ độc tài và tàn bạo nào trong lịch sử.

Looking for Clues in Boston Bombings

Video >> Học tiếng, Thế giới, Việt nam, Thư giãn, Thể thao, Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

>> N Y Times

Looking for Clues in Boston Bombings

Chủ nghĩa Phát-xít và chủ nghĩa Cộng sản

Video >> Học tiếng, Thế giới, Việt nam, Thư giãn, Thể thao, Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Nguyễn Hưng Quốc
Nhớ, năm 1978, lúc đang học năm thứ ba ở trường Đại học Sư phạm, tôi và các bạn trong lớp đi thực tập ở trường cấp 3 Tân Lý Tây thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Đó là một xã nhỏ, chưa tới mười ngàn dân, lúc ấy còn khá nghèo, hầu hết các nhà vệ sinh đều nằm chênh vênh trên các hồ cá tra. Thấy sinh viên từ thành phố về, dân chúng có vẻ rất vui. Ủy ban nhân dân xã tổ chức một buổi tiếp đón khá nồng hậu ngay trong buổi tối đầu tiên lúc chúng tôi mới đến. Chủ tịch xã đứng lên phát biểu. Ông là một nông dân, có lẽ, trước 1975, vốn là du kích. Đứng trước hơn 100 đứa sinh viên, ông không giấu được sự lúng túng, nói năng cứ lấp vấp, lập bập, không đầu không đuôi gì cả. Nội dung chính vẫn là ca ngợi tính chất ưu việt của chế độ mới, những điều có lẽ ông nghe được trong các buổi học tập chính trị hoặc trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Nhưng vui nhất là, để nhấn mạnh tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, ông cứ lặp đi lặp lại là “chúng ta không giống bọn Mác-xít độc tài và tàn bạo giết hại cả hàng triệu người”. Bọn chúng tôi biết là ông nhầm giữa Mác-xít và Phát-xít. Nhưng không đứa nào dám cười. Chỉ sau đó, mấy đứa miền Nam mới thì thầm với nhau: “Thì Mác-xít hay Phát-xít cũng vậy thôi!

Bản án Đoàn Văn Vươn gây bức xúc công luận

Video >> Học tiếng, Thế giới, Việt nam, Thư giãn, Thể thao, Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Các bản án từ 2-5 năm tù dành cho 4 anh em gia đình nông dân Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng (Hải Phòng) về tội danh “giết người” và 15-18 tháng tù treo dành cho vợ và em dâu ông Vươn về tội danh “chống người thi hành công vụ” đang gặp phải những phản ứng gay gắt từ công luận không chỉ về sự công minh của phiên tòa mà còn về những bất công trong chính sách đất đai của nhà nước, nguyên nhân gốc rễ gây nên tiếng súng vang dội “Đoàn Văn Vươn”.

Tại tòa, bị can Phạm Thị Báu, em dâu ông Vươn, đã thẳng thắn lên tiếng phản đối bản cáo trạng đối với các thành viên trong gia đình về tội danh “giết người, chống người thi hành công vụ”.

Bấm vào đây để nghe cuộc phỏng vấn

Tải

Bà Báu nói căn cứ vào kết luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày 10/2/2012, bà khẳng định đoàn người kéo đến cưỡng chế nhà bà sáng ngày 5/1 năm ngoái không phải là những người thi hành công vụ. Tuy nhiên, những lập luận của bị can và luật sư đã không được tòa cân nhắc.

Luật sư Nguyễn Việt Hùng, luật sư chính trong 8 đại diện pháp lý của gia đình ông Vươn, cho biết:

Nhìn vào ở góc độ văn minh, vụ Đồng Nọc Nạn cách đây 85 năm giết chết một quan Pháp và cuối cùng tòa đại hình Pháp đã tha bổng bị can. Đến bây giờ vụ ông Vươn cũng lặp lại như thế, nhưng không chết người, thì lại bỏ tù.

“Bản án chưa thật sự khách quan, chưa lột tả được bản chất của vụ án. Nội dung trình bày và phân tích của chúng tôi cũng chưa được nêu rõ trong bản án này. Quan điểm của chúng tôi là không có tội danh “giết người, chống người thi hành công vụ” trong vụ án này.”

Bản án là đáp số chung cuộc cho bao nhiêu năm dày công vun đắp của gia đình Đoàn Văn Vươn trên mảnh đất canh tác của mình, cho 3 năm họ ròng rã khiếu nại, khiếu kiện phản đối quyết định cưỡng chế bất công không được giải quyết, cho những xôn xao dự đoán của công luận về cách xử lý của chính quyền trong vụ việc, trong chính sách đất đai và bài trừ tham nhũng.

Bà Báu cho VOA Việt ngữ biết gia đình bà hết sức thất vọng trước các bản án được tuyên hôm 5/4.

Thế nhưng, kết quả phiên tòa không chỉ là sự thất vọng tột cùng đối với các bị can, mà còn đối với rất nhiều nạn nhân của nạn tịch thu đất đai trên cả nước, nhất là những người nông dân.

Ông Vũ Văn Luân, Thư ký Liên Chi Hội Nuôi trồng Thủy sản huyện Tiên Lãng, một trong những người theo dõi sát vụ án Đoàn Văn Vươn, phát biểu:

“Các bản án hôm nay, tôi không hài lòng. Dân Hải Phòng không tin tưởng sẽ có một bản án nhân văn về việc này. Theo dõi các phiên tòa, tôi cho rằng ông Vươn không “giết người, chống người thi hành công vụ”. Chúng tôi đã gửi rất nhiều văn bản rồi. Trong đó, chúng tôi khẳng định theo khoản 1 điều 15, ông Vươn phòng vệ chính đáng. Trong tình thế cấp thiết được quy định tại khoản 1, điều 16 Luật Hình sự, ông Vươn không phạm tội. Vì như quy định ghi rõ, ông buộc phải bảo vệ lợi ích của nhà nước, tập thể, nhân dân, và của mình, nên buộc phải gây ra thiệt hại nhỏ để ngăn chặn. Người ta đã có sẵn bản án rồi, nhưng tôi cho rằng ‘Nói phải, củ cải cũng nghe’. Trong vụ việc ông Vươn, dư luận thế giới rất mong chờ mọi thông tin sẽ được mổ xẻ. Các cụ nói ‘Nói phải, củ cải cũng phải nghe’, thế nhưng mình đã nói phải được chưa. Tôi lo nhất là mình chưa nói được cái gốc của vấn đề này ra, chính là bắt nguồn từ điều 15, 16 Luật Hình sự.”

Kết quả vụ án này có ý nghĩa thế nào và ảnh hưởng ra sao đối với người nông dân Việt Nam, những nạn nhân trực tiếp của tình trạng cưỡng chế tịch thu đất đai tràn lan trong nước?

Ông Luân cho rằng:

“Có một điều lớn nhất là người ta đang so sánh giữa vụ án Đồng Nọc Nạn thời kỳ thực dân Pháp và vụ án bây giờ ở Hải Phòng, một thành phố rất nhạy cảm về tất cả các lĩnh vực, đặc biệt về đất đai. Nhìn vào ở góc độ văn minh, vụ Đồng Nọc Nạn cách đây 85 năm giết chết một quan Pháp và cuối cùng tòa đại hình Pháp đã tha bổng bị can. Đến bây giờ vụ ông Vươn cũng lặp lại như thế, nhưng không chết người, thì lại bỏ tù. Tôi cho rằng người ta sẽ không hài lòng về bản án này.”

Chừng nào nhà nước Việt Nam chưa giải quyết những tiêu cực này thì chừng đó chúng ta còn thấy thêm nhiều vụ án Đoàn Văn Vươn như thế này nữa.

Tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế Human Rights Watch cho rằng vụ án Đoàn Văn Vươn là tín hiệu cảnh báo cho nhà cầm quyền Hà Nội về hậu quả của tình trạng thiếu nhân quyền và pháp trị tại Việt Nam.

Phản ứng trứơc bản án dành cho gia đình ông Vươn, ông Phil Robertson, Phó giám đốc phụ trách khu vực Châu Á trong Tổ chức theo dõi Nhân quyền Human Rights Watch nói:

“Thật thú vị khi những người bị cáo buộc dùng võ khí, súng ống chống lại chính quyền thì bị 5 năm tù trong khi những người chỉ thể hiện quyền tự do ngôn luận của công dân để bày tỏ chính kiến như blogger như Điếu Cày lại bị kêu án 12 năm tù. Thực trạng này thật kỳ quặc và cần lời giải thích từ nhà cầm quyền Việt Nam.”

Ông Robertson thuộc Human Rights Watch cảnh báo rằng chính sách nhân quyền và đất đai của nhà nước Việt Nam sẽ còn gây ra nhiều vụ “Đoàn Văn Vươn” khác nữa:

“Vấn đề ở đây là sự phi pháp trong chính sách cưỡng chế đất đai của chính quyền cũng như trong cách hành xử của quan chức địa phương vẫn chưa được xử lý thỏa đáng. Chừng nào nhà nước Việt Nam chưa giải quyết những tiêu cực này thì chừng đó chúng ta còn thấy thêm nhiều vụ án Đoàn Văn Vươn như thế này nữa.”

Chính sách đất đai và tranh chấp đất đai là đề tài nóng gây nhiều bức xúc tại Việt Nam. Trên 70% hồ sơ khiếu kiện trong nước chống lại chính quyền đều có liên quan đến đất đai.

Vụ án của nông dân Đoàn Văn Vươn, người được mệnh danh là “Anh hùng áo vải”, gây chú ý công luận trong và ngoài nước khởi sự từ đầu năm ngoái khi gia đình ông Vươn dùng võ khí tự tạo để bảo vệ đất canh tác trước lực lượng cưỡng chế đất đai gồm hàng trăm công an, bộ đội võ trang.

Có 6 nhân viên công lực bị thương, 5 quan chức chính quyền bị truy tố về tội “hủy hoại tài sản” và “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” trong vụ việc.

Nếu họ cứ giữ hiến pháp như cũ thì làm gì?

Video >> Học tiếng, Thế giới, Việt nam, Thư giãn, Thể thao, Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Nếu họ cứ giữ hiến pháp như cũ thì làm gì?


Phạm Nhật Bình

1. Sóng nước dâng trào:

Bất kể kiểu hé cửa, rồi đóng, rồi lại mở của lãnh đạo đảng, sự chán, bực, và nóng của người dân quanh vụ sửa đổi hiến pháp đã vượt ngoài sức dự đoán của tất cả.
* Bản kiến nghị của 72 nhân sĩ ra đời, xoáy thẳng vào những điểm cốt lõi như: điều 4 quy định quyền lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện của Đảng CSVN; tệ trạng chính trị hóa các lực lượng vũ trang; nhu cầu công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai, v.v.
* Sự ra đời của trang blog Cùng Viết Hiến Pháp của các nhân sĩ như Ngô Bảo Châu, Đàm Thanh Sơn và Nguyễn Anh Tuấn. Đã có hẳn một bản Dự thảo hiến pháp hoàn toàn mới được viết ra với các hình thức tổ chức nền tảng chính trị tiên tiến của nhân loại.
* Bản Tuyên Bố của các Công Dân Tự Do xuất hiện ngay sau sự trừng phạt của nhà nước đối với nhà báo Nguyễn Đắc Kiên, cũng xoáy vào điều 4; nhu cầu đa nguyên, đa đảng cho đất nước; tam quyền phân lập; phi chính trị hóa quân đội. Và khẳng định mỗi người Việt Nam, nếu muốn, đều có quyền tuyên bố các điểm trên.
* Bản lên tiếng của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam với ba đề nghị cụ thể: Xóa bỏ đặc quyền của bất kỳ đảng nào; Tam quyền phân lập; Nhân dân kiểm soát việc thi hành pháp luật.
* Bản lên tiếng của Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ nhấn mạnh nhu cầu phải thay đổi tận gốc rễ mà đáng lẽ đã phải xảy ra từ lâu.
* Lời kêu gọi của Khối 8406: Đấu tranh đòi Nhà cầm quyền cộng sản phải tổ chức tại Việt Nam một cuộc Trưng Cầu Dân Ý có quốc tế giám sát.
* Cụ Lê Quang Liêm, đại diện Giáo Hội Trung Ương Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy bày tỏ lòng ủng hộ các quan điểm cần thay đổi hệ thống chính trị hiện tại một cách cơ bản.
* Và rất nhiều các lên tiếng cá nhân khác