Luận văn ở đại học: Tìm tài liệu

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Nguyễn Hưng Quốc
Sau khi phác thảo dàn bài sơ khởi, sinh viên đã biết phần nào những tài liệu mình cần. Vấn đề là: tìm những tài liệu ấy ở đâu? Một số khá đông sinh viên có thói quen hay than thở: tài liệu liên quan đến đề tài mình viết quá hiếm hoặc thậm chí không có. Lời than thở ấy thường ít khi đúng sự thật.
Lý do là khi ra đề, phần lớn các thầy cô giáo đã kiểm tra trước để xem nguồn tài liệu mà sinh viên sẽ sử dụng cho bài viết của họ có đủ hay không.
1. Tìm tài liệu ở đâu?

Những cái được gọi là tài liệu thường rất đa dạng, bao gồm các dạng chính sau:

  1. Bài giảng ghi trong lớp (lecture notes)
  2. Sách giáo khoa (textbooks)
  3. Từ điển chuyên ngành (discipline dictionaries)
  4. Từ điển bách khoa (encyclopedia)
  5. Sách liên hệ đến đề tài
  6. Tạp chí
  7. Internet

a. Bài giảng ghi trong lớp:

Đây là tài liệu đầu tiên mà sinh viên cần đọc. Nó sẽ cung cấp cho sinh viên những thông tin căn bản nhất. Nó lại dễ hiểu hơn so với các loại tài liệu viết khác vì khi giảng trong lớp, các thầy cô giáo thường quảng diễn, cho nhiều ví dụ, vừa tầm với trình độ của sinh viên. Tuy nhiên, khi sử dụng bài giảng trong lớp, sinh viên

(i) nên xem đó như là một sự gợi ý tốt, chứ không nên chép nguyên vẹn bài giảng hay một phần của bài giảng vào luận văn của mình. Đó chỉ là cách làm của học sinh trung học. Nó dễ làm cho giáo sư có ấn tượng là mình lười biếng, thiếu công phu hoặc phương pháp nghiên cứu.

(ii) khi sử dụng một vài thông tin trong bài giảng thì khỏi cần ghi xuất xứ, khỏi cần ghi, đại khái kiểu “Theo bài giảng của thầy Nguyễn V.A. trong lớp ngày 20.4.2013…” vì hai lý do: một là, không có gì chắc mình hiểu đúng và ghi đúng ý của thầy cô giáo; hai là, kiến thức thầy cô giáo giảng trong lớp phần nhiều là thứ kiến thức tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, chứ chưa chắc đã là sáng kiến riêng của họ. Dĩ nhiên, nếu những bài giảng ấy đã được thầy cô giáo biên soạn và xuất bản chính thức thì việc ghi xuất xứ sẽ là điều bắt buộc.

Thế nào là một bài luận văn hay?

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Nguyễn Hưng Quốc

I. Luận văn ở đại học và ở trung học
 
Nhận xét cho đại học là trường phổ thông cấp 4 nêu lên trong bài trước có thể đúng với tình hình giáo dục ở Việt Nam, tuy nhiên, ở các quốc gia tiên tiến, đại học là đại học, chứ không phải là một thứ trường cấp 3 nối dài. Trong phạm vi chúng ta đang bàn, viết luận văn ở đại học khác hẳn việc làm luận ở dưới trung học. Khác ở nhiều phương diện:

  1. Về yêu cầu, ở trung học, làm luận là một cách ‘trả bài’; ở đại học, viết luận văn là một cách kiểm tra năng lực nghiên cứu một cách độc lập, ở đó, sinh viên phải tự mình chọn lựa đề tài, tìm kiếm và sử dụng tài liệu ở ngoài bài giảng, với sự trợ giúp rất giới hạn của các thầy, cô giáo.
     
  2. Về quy mô, do tính chất đơn giản của nó, bài luận văn ở trung học thường ngắn, trong vòng trên dưới 500 từ, hoàn tất trong vòng một hay hai tuần; ở đại học, ngược lại, bài luận văn dài hơn, trung bình từ 1000 đến 3000 từ, được yêu cầu hoàn tất trong khoảng thời gian từ ba đến sáu, bảy tuần.
     
  3. Về phạm vi tư liệu, với yêu cầu và quy mô kể trên, ở trung học, học sinh chỉ cần tham khảo bài giảng, sách giáo khoa và một vài bài báo hay vài cuốn sách căn bản khác – thường là từ điển bách khoa; ở đại học, sinh viên cần phải đọc rộng hơn, từ bài giảng đến sách, báo và các tạp chí chuyên môn, có khi phải sử dụng cả đến những cuộc phỏng vấn trực tiếp do sinh viên tự thực hiện; hơn nữa, tất cả các tài liệu ấy phải được kén chọn cẩn thận: Chúng phải khả tín. 
     
  4. Về cách thức thể hiện, ở trung học, học sinh thường chỉ được đòi hỏi miêu tả hoặc kể lại một sự kiện hay một hiện tượng nào đó; ở đại học, sinh viên cần phải lý luận, phân tích và chứng minh một vấn đề với yêu cầu là phải làm sao thuyết phục được người đọc. 
  5. Về phương pháp luận, ở trung học, học sinh chỉ cần biết một số sự kiện chính liên hệ đến vấn đề mình phân tích; ở đại học, sinh viên thường được/bị đòi hỏi nhìn vấn đề ấy từ góc độ lý thuyết với một thứ ngôn ngữ mang nhiều tính khái niệm và từ góc độ lịch sử để thấy quá trình nhận thức về vấn đề ấy theo chiều lịch đại, tức theo thời gian. 

Ví dụ, về đề tài gia đình:
 

  • Ở trung học, người ta thường chỉ yêu cầu học sinh miêu tả một sinh hoạt, một cảnh tượng, hoặc một sự kiện nào đó liên quan đến đời sống gia đình mà học sinh ấy từng chứng kiến hoặc trực tiếp có kinh nghiệm. Có khi, tổng quát hơn, vẽ lại cây gia phả của một đại gia đình để thấy cấu trúc dòng họ và mối quan hệ mang tính đẳng cấp giữa các thế hệ.

 

  • Ở đại học, sinh viên được đòi hỏi nhìn gia đình không phải như một thực thể trước mắt với hình ảnh một người cha, một người mẹ và mấy đứa con quây quần với nhau quanh một bữa cơm tối hay trong phòng khách như chúng ta thường thấy trong sách báo cho trẻ em. Ngược lại, sinh viên phải nhìn gia đình như những con số thống kê (về các vụ đám cưới, các vụ ly dị, số con cái, v.v.), hoặc như một khái niệm trừu tượng về hôn nhân: nó được hình thành như thế nào trong lịch sử; nó có những chức năng gì, có những đặc điểm gì; có những quan hệ tương tác gì với các sinh hoạt khác như kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá, v.v..

 
Nhưng nhìn vấn đề như thế, sinh viên sẽ phát hiện ra một điều là gia đình có quan hệ chặt chẽ với các cơ chế xã hội khác, từ phương thức sản xuất đến chế độ chính trị, từ một phát kiến khoa học đến một trào lưu tư tưởng, v.v.. Bởi vậy, để giải thích vấn đề gia đình, dù muốn hay không, người ta cũng phải dựa trên những lý thuyết chính trị, xã hội hay văn hoá rộng hơn bản thân vấn đề gia đình. Lúc ấy sinh viên sẽ thấy là cách nhìn về gia đình sẽ khác hẳn nhau nếu người ta sử dụng những phương pháp luận khác nhau, chẳng hạn, cách nhìn của các nhà chức năng luận (functionalism) sẽ không giống các nhà mác xít (Marxism), lại càng không giống các nhà phê bình nữ quyền (feminism).
 
Chúng ta có thể tóm tắt những sự khác biệt giữa các bài luận văn ở trung học và đại học như sau:
 

  TRUNG HỌC ÐẠI HỌC
Yêu cầu Nhớ bài Khả năng nghiên cứu độc lập
Tư liệu Bài giảng & sách giáo khoa Bài giảng, sách giáo khoa & sách báo các loại
Thời gian 1, 2 tuần Từ 3 đến 6,7 tuần
Chiều dài 300 – 500 từ 1000 – 3000 từ
Phương pháp thể hiện Tự sự hay miêu tả Lý luận, phân tích, chứng minh
Tính chất Chủ quan, cảm tính Nặng về lý thuyết và phương pháp luận

 
                                               
II. Một bài luận văn hay
 
Với những điểm khác biệt kể trên, tiêu chuẩn đánh giá luận văn ở trung học và đại học khác hẳn nhau.
 
Ở trung học, vì chỉ nhắm tới việc kiểm tra kiến thức nên một bài luận văn “hay” thường có thể chỉ là một bài tường thuật trôi chảy và mạch lạc những gì thầy đã giảng trong lớp hoặc đã được trình bày trong các sách giáo khoa (textbook). Nếu người viết liên hệ những kiến thức ấy với kinh nghiệm của bản thân mình để bài luận có cảm xúc hơn thì lại càng hay.
 
Ở đại học, ngược lại, vì nhắm đến việc kiểm tra khả năng nghiên cứu độc lập, cho nên ở đây khả năng tìm kiếm và sử dụng tài liệu, phương pháp làm việc, óc phê bình và óc lý luận của người viết được coi là những tiêu chuẩn quan trọng nhất.
 
Nói chung, ở đại học, một bài luận văn đặc sắc cần phải đạt được một số yêu cầu tối thiểu như sau:

  1. Tập trung vào vấn đề. Cả bài viết dù cho dài cả 2000 – 3000 từ cũng chỉ tập trung vào việc làm sáng tỏ một vấn đề duy nhất.
     
  2. Trong cái gọi là “tập trung vào một vấn đề” ấy, điều quan trọng nhất là phải có một ý tưởng trung tâm được thể hiện qua một lập luận chặt chẽ và được củng cố bởi các bằng chứng thích hợp.
     
  3. Phải bao quát được những kiến thức căn bản và cập nhật nhất liên quan đến đề tài.
     
  4. Phải biết cách tìm kiếm, chọn lọc, phân tích và đánh giá các tài liệu mình sử dụng.
     
  5. Phải biết nhìn vấn đề từ nhiều góc cạnh khác nhau, qua nhiều cách diễn dịch khác nhau, với những ý kiến từ nhiều học giả khác nhau.
     
  6. Phải biết cách vận dụng các lý thuyết vào việc lý giải những vấn đề cụ thể.
     
  7. Phải được diễn đạt một cách trôi chảy, đúng phong cách học thuật (academic). Nghĩa là, về phương diện ngôn ngữ, phải sử dụng các từ trung tính (neutral) và phi ngã (impersonal), các kiểu câu phức và dài; về giọng điệu, phải trang trọng hơn là thân mật; về phong cách, phải thiên về phân tích hơn là ấn tượng, khách quan hơn là chủ quan, trí thức hơn là cảm xúc, lý luận chặt chẽ hơn là sự hùng hồn. 

III. Tiêu chuẩn chấm điểm
 
Ở Úc, hoặc ở Tây phương nói chung, khi ra đề luận, các giáo sư bao giờ cũng nêu rõ các yêu cầu và tiêu chí chấm điểm, ví dụ, về lập luận, cấu trúc, cách diễn đạt hoặc về cách trích dẫn. Có khi người ta còn yêu cầu rất cụ thể: Phải trích dẫn từ ít nhất năm hay bảy cuốn sách khác nhau; và khi trích dẫn, sinh viên cần phải trình bày theo phương pháp nào.
 
Căn cứ vào những tiêu chí ấy, mỗi giáo sư sẽ có một bảng thang điểm riêng. Ví dụ điểm dành cho một bài luận văn nào đó là 100. Nó có thể sẽ được phân bố đại khái như sau:
 

  Xuất sắc (High Distinction) Giỏi (Distinction) Khá (Credit) Trung bình (Pass) Kém (Fail)
Kiến thức 16-20% 14-16% 12-16% 10-12% Dưới 10%
Lập luận 16-20% 14-16% 12-16% 10-12% Dưới 10%
Kết cấu bài 16-20 % 14-16% 12-16% 10-12% Dưới 10%
Diễn đạt (chính tả, cách dùng từ & cách đặt câu) 16-20% 14-16% 12-16% 10-12% Dưới 10%
Trình bày (*) 16-20% 14-16% 12-16% 10-12% Dưới 10%
Tổng cộng 80-100% 70-80%** 60-70%** 50- 60%** Dưới 49%

 
Chú thích:
 
* Bao gồm cách trích dẫn và cách ghi các tài liệu được trích dẫn (references) cũng như tài liệu tham khảo nói chung (bibliography).
** Ở đây, tôi lấy số chẵn cho tiện. Thật ra, hạng giỏi phải là 70-79%, khá 60-69% và Trung bình 50-59%. Cũng xin lưu ý là ở mỗi đại học, điểm chuẩn cho mỗi thứ hạng có thể khác nhau. Ví dụ, điểm chuẩn của hạng Xuất sắc (High Distinction), có trường quy định là trên 80; có trường lại quy định là phải trên 85, v.v..
 
Xin lưu ý: bảng thang điểm ở trên chỉ là một ví dụ. Thường, các giáo sư không công bố bảng thang điểm này cho sinh viên biết. Tuy nhiên, trên thực tế, bất cứ giáo sư nào cũng dựa vào bảng thang điểm ấy để chấm bài. Có điều là tỉ lệ dành cho từng phần có thể thay đổi tuỳ từng giáo sư. Ví dụ, người coi trọng lập luận thì nâng số điểm dành cho phần đó lên cao hơn các phần khác một chút, ví dụ 25% thay vì 20% như trên; hay người coi trọng cách diễn đạt, cách viết văn thì cũng có thể nâng nó lên cao hơn tỉ lệ điểm dành cho các phần kiến thức, lập luận hay kết cấu một chút, v.v..
 
Cho dù bảng điểm ở trên chỉ là một ví dụ, nhưng nó cũng có thể giúp cho sinh viên hiểu cách chấm điểm của giáo sư thể hiện trong bảng đánh giá đính kèm vào bài luận văn trả lại cho sinh viên. Bảng đánh giá đó đại khái như sau:
 

  Xuất sắc Giỏi Khá Trung bình Kém
Kiến thức V        
Lập luận   V      
Kết cấu bài     V    
Diễn đạt     V    
Trình bày   V      

 
Qua bảng đánh giá trên chúng ta thấy:
 

  • Về phương diện kiến thức, bài viết được đánh giá rất cao, thuộc loại xuất sắc, có thể đạt điểm tối đa (ví dụ: 20% của bài luận văn).
  • Về phương diện lập luận, bài viết nằm phần cao nhất của “Giỏi”, tức khoảng 15-16%.
  • Về phương diện kết cấu, tức đối với yêu cầu về tính hệ thống, bài viết chỉ thuộc mức trung bình của hạng khá, có thể đạt khoảng 13-14%
  • Về phương diện diễn đạt, bài viết chỉ ở mức thấp nhất của hạng khá, có thể đạt khoảng  12 %.
  • Về phương diện trình bày, bày viết thuộc mức thấp của giỏi, có thể đạt 14%.

 
Như vậy, cộng tất cả số điểm trên lại, bài viết được khoảng từ 74 đến 76%, tức là nói chung, thuộc loại Giỏi (Distinction).

VOANEWS :

Truyền hình vệ tinh VOA Asia 13/4/2013

Mỗi Người Chúng Ta Là Một Chiến Sĩ Thông Tin

>> NGUỒN:

Thăm Trung tâm Việt Nam ở Lubbock, Texas

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Nguyễn Hưng Quốc
Chuyến bay kéo dài dằng dặc hơn 15 tiếng từ Úc sang Dallas, Texas. Lại mất thêm gần một tiếng cho các thủ tục nhập cảnh. Và chờ thêm ba tiếng nữa mới được lên một chiếc máy bay nhỏ xíu hơn 50 ghế ngồi để đến thành phố Lubbock. Chuyến bay lần này khá ngắn, theo lời phi công trưởng, chỉ mất 47 phút, nhưng trên thực tế, từ lúc bước lên máy bay đến lúc ra khỏi phi trường, phải mất ít nhất một tiếng rưỡi. Tổng cộng, từ nhà ở Úc đến nơi đây, tôi mất hơn 20 tiếng. Để làm gì ư? – Để chỉ thăm Trung tâm Việt Nam (The Vietnam Center) thuộc trường Texas Tech University.

Tôi có ý định thăm Trung tâm Việt Nam đã lâu. Lâu lắm. Ít nhất từ cả 10 năm trước, lúc tôi mới mở một lớp mới tại Victoria University về chiến tranh Việt Nam với cái tên Many Vietnams: War, Culture and Memory (Nhiều nước Việt Nam: Văn hoá, chiến tranh và ký ức). Theo tôi, Trung tâm Việt Nam là nơi mà các nhà nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam hoặc xã hội Việt Nam trước năm 1975 không thể không tới. Biết thế, nhưng tôi cứ lần khân mãi. Một phần vì bận bịu. Phần khác vì ngại sự xa xôi và heo hút của cái thành phố nơi trung tâm toạ lạc.

Được xem là thành phố đông dân thứ 11 của tiểu bang Texas, nhưng thật ra, theo thống kê dân số năm 2010, Lubbock chỉ có 229.573 người, tức gần bằng dân số của một quận trung bình ở Sài Gòn, hoặc gần gấp đôi dân số ở thị xã Hội An. Dân ít, đất lại rộng, nhà cửa thưa thớt nên cái ít ấy càng có vẻ ít hơn nữa. Cái ít và cái thưa ấy làm Lubbock trở thành một nơi hiu quạnh và buồn chán. Đi trên một trong những con đường chính của thành phố dẫn đến Texas Tech University, tôi thấy nhiều nhất hình như là nhà thờ. Đủ loại nhà thờ. Nhà thờ nào cũng nguy nga và cao chót vót. Nhưng các trung tâm văn hoá, nghệ thuật và giải trí thì lại khá hiếm hoi.

Trước năm 2009, thậm chí, trong thành phố không có cả một tiệm bán rượu sỉ và lẻ (dù một số tiệm ăn có thể phục vụ rượu)! Một nơi như thế, đến, chủ yếu là để làm việc và để… đi tu.

Hiện tượng phản-ngôn ngữ ở Việt Nam

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Nguyễn Hưng Quốc

Trên báo chí trong nước, thỉnh thoảng có một số người còn nhiều tâm huyết lên tiếng báo động về tình trạng khủng hoảng của tiếng Việt. Bằng chứng họ nêu lên thường là những cách viết tắt, cố tình sai chính tả hoặc pha nhiều tiếng nước ngoài của giới trẻ trên facebook hay các blog. Nhưng dường như chưa ai thấy điều này: sự khủng hoảng trong tiếng Việt chủ yếu nằm trong lãnh vực chính trị và xuất phát từ giới cầm quyền. Nó nằm ngay trong các nghị quyết của đảng, các bài diễn văn của giới lãnh đạo và, cụ thể nhất, trên trang báo Nhân Dân hay Tạp chí Cộng sản, rồi từ đó, lan đi khắp nơi, trên các cơ quan truyền thông cũng như ở miệng của các cán bộ và đảng viên các cấp.

Không phải người ta không thấy những sự khủng hoảng ấy. Thấy nên phản ứng. Có ba loại phản ứng chính.

Thứ nhất, không tin những gì chính quyền nói. Một trong những câu nói được nhắc nhở nhiều nhất của ông Nguyễn Văn Thiệu, nguyên Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, là: “Đừng nghe những gì cộng sản nói”. Xin lưu ý: câu nói ấy chỉ thực sự gây tiếng vang và được phổ biến rộng rãi chủ yếu sau năm 1975, lúc ông Thiệu đã trở thành con người của quá khứ.

Thứ hai, chính những người cộng sản, ngay cả cộng sản cao cấp, cũng thấy thẹn thùng khi sử dụng loại ngôn ngữ họ sáng chế và từng ra sức áp đặt lên xã hội. Có thể nêu lên hai ví dụ. Một là với chữ “đồng chí”. Trước, đó là cách xưng hô chính thức và phổ cập. Sau, nó chỉ hiện hữu trong các cuộc hội nghị. Nói chuyện với nhau, hầu như không ai gọi nhau là “đồng chí” nữa. Nghe chữ “đồng chí” là sợ: nó báo hiệu một màn đấu đá hoặc một tai họa (1). Ngay ở Trung Quốc, chính quyền cũng khuyên dân chúng hạn chế dùng chữ “đồng chí” trên các phương tiện giao thông công cộng (2). Hai là chữ “cộng sản”.

Với nhiều người, kể cả đảng viên, cứ nghe người khác gọi mình là “cộng sản”, họ có cảm giác như nghe một lời chửi mắng. Chứ không có chút tự hào trong đó cả. Nhớ, đã khá lâu, trong một cuộc gặp gỡ ở Úc, một người là đảng viên khá cao cấp, hiện đang làm việc trong ngành truyền thông ở Việt Nam, nhắc đến cuốn Văn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản (1991 & 1996) của tôi, rồi hỏi: “Sao anh không đặt nhan đề là ‘Văn học dưới chế độ xã hội chủ nghĩa’ nhỉ?” Tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Thế có khác gì nhau không?” Anh ấy đáp: “Khác chứ. Chữ ‘xã hội chủ nghĩa’ nghe thanh lịch hơn; còn chữ ‘chế độ cộng sản’ nghe ghê quá, cứ như một lời kết án.” Tôi lại hỏi: “Anh là đảng viên mà cũng có ấn tượng vậy sao?” Anh ấy đáp, thật thà: “Đó là ấn tượng chung của toàn xã hội mà. Tên đảng thì không ai dám đổi, nhưng trong đời sống hàng ngày, nghe mấy chữ ấy, mình cũng thấy ngài ngại.”

Thứ ba, phản ứng lại sự lũng đoạn ngôn ngữ của chính quyền dưới hình thức phản-ngôn ngữ (anti-language) qua những cách nói hoàn toàn bất chấp nguyên tắc ngữ nghĩa cũng như ngữ pháp thông thường.

Hiện tượng phản-ngôn ngữ, vốn xuất hiện và phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt là ở miền Bắc, trong vài thập niên trở lại đây, có nhiều hình thức khác nhau.

Nhân ngày khai giảng: giáo dục uể oải theo lối mòn

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Bùi Tín
Năm học mới vừa khởi đầu trên toàn thế giới.

Ở Pháp, năm nay nổi lên vấn đề cải cách giáo dục cho tất cả các bậc học, từ mẫu giáo đến cao học. Đây là năm học đầu tiên trong điều kiện đảng Xã hội Pháp lãnh đạo cả chính phủ, Thượng viện, Hạ viện và tuyệt đại đa số các vùng hành chính trong cả nước.

Thủ tướng Jean Marc Ayrauld và Bộ trưởng Giáo dục Vincent Peillon liên tiếp lên đài phát thanh – truyền hình, trả lời phỏng vấn về những điểm chính trong cuộc cải cách giáo dục trước mắt. Cuộc cải cách bao gồm nhiều lĩnh vực với nhiều trọng điểm. Đó là tăng thêm số giáo sư cho các ngành học, thường xuyên nâng trình độ giáo viên các cấp, chú trọng việc dạy nghề, khôi phục việc dạy về đạo đức cũng như công dân giáo dục. Tư tưởng trung tâm của nền giáo dục là đào tạo những con người tự do, có tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, có đầu óc phản biện, biết hoài nghi chính đáng, từ bỏ lối học giáo điều, học vẹt, xuôi chiều, nhằm lấy bằng cấp, tách khỏi cuộc sống xã hội. Nói cô đọng, đó là rèn luyện nhân cách cho mỗi công dân để phát triển toàn diện đến mức cao nhất mỗi cá nhân, mỗi gia đình và toàn xã hội.

Ở Việt Nam, năm nay khai giảng năm học mới xem ra chẳng có gì là mới. Còn có vẻ uể oải.

Vẫn là Chủ tịch nước gửỉ thư cho giáo viên và học sinh và sinh viên, động viên dạy tốt, học tốt, nâng cao chất lượng giáo dục, phát huy truyền thống hiếu học, thực hiện chiến lược giáo dục 10 năm 2011 – 2020. So với năm ngoái cũng y như thế, không có điểm gì khác. Rồi vẫn Bộ trưởng Giáo dục Phạm Vũ Luận đến trường trung học Lê Quý Đôn ở quận Cầu Giấy đánh một hồi trống khai mạc năm học, như một nghi lễ sáo mòn, nhạt nhẽo.

Biểu tình ở Hồng Kông chống việc dạy chủ thuyết Cộng sản

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Hàng ngàn phụ huynh và học sinh tụ tập bên ngoài trụ sở chính của chính phủ trên khắp Hồng Kông, phản đối kế hoạch mở các lớp yêu nước để dạy cho trẻ em về lịch sử và chủ thuyết của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, ngày 3/9/2012 (Ivan Broadhead / VOA)

Dân chúng ở Hồng Kông lại tổ chức các cuộc biểu tình để chống đối kế hoạch mở các lớp yêu nước để dạy cho trẻ em về lịch sử và chủ thuyết của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Theo tường thuật do thông tín viên Ivan Broadhead của đài VOA ở Hồng Kông, dân chúng ở phần đất cựu thuộc địa Anh lo ngại là sự áp dụng giáo trình yêu nước là dấu hiệu cho thấy Trung Quốc định nới rộng sự kiểm soát đối với thành phố bán tự trị này.

Ngày đầu của năm học mới ở Hồng Kông kết thúc ngày hôm nay với cuộc biểu tình của khoảng 8.000 học sinh và phụ huynh bên ngoài trụ sở chính của chính quyền thành phố. Với trang phục màu đen từ đầu tới chân, những người biểu tình chống đối việc khởi động chương trình gọi là “giáo dục quốc dân” tại các trường học của thành phố.

Mục tiêu của giáo trình này được phác họa trong một tờ truyền đơn do chính quyền tài trợ có nhan đề “Mô hình Trung Quốc”, với nội dung chính là ca ngợi Đảng Cộng Sản Trung Quốc, phớt lờ những biến cố trọng đại như vụ thảm sát Thiên an môn năm 1989 và mô tả thể chế dân chủ đa đảng là “độc hại.”

Tuy không bắt buộc áp dụng cho tới năm 2015, 6 trường cấp hai đã bắt đầu các lớp giáo dục quốc dân trong tuần này. Giáo chức hồi hưu James Hon là một trong 10 thành viên của Liên minh chống Giáo dục Quốc dân cam kết tiếp tục tuyệt thực cho tới khi nào chính quyền Hồng Kông thân Bắc Kinh hủy bỏ điều mà họ cho là chương trình “tẩy não” các em học sinh.

Với việc thực thi giáo trình tẩy não này, con em chúng ta sẽ lớn lên như những người ở Trung Quốc, những người không dám nói lên tiếng nói chân thật của trái tim, không biết phân biệt đúng sai, những người đã trở thành những kẻ yêu nước mù quáng. Đó chính là những gì mà người dân Hồng Kông đang lo sợ.

Nhân vật đứng hàng thứ nhì trong chính quyền Hồng Kông, bà Carrie Lam, không tdong những lời chỉ trích đó. Bà phát biểu tại một cuộc họp báo rằng mục đích của giáo trình mới là tốt đẹp và những mối lo ngại về tẩy não là vô căn cứ.

Bà Lam nói: “Vấn đề không thể được đơn giản hóa tới mức là chính quyền có sẵn sàng rút lại môn học này hay không. Trọng tâm của vấn đề là làm thế nào để bảo đảm là việc giảng dạy sẽ đạt được những mục tiêu mà chúng ta mong muốn … để dạy dỗ cho thế hệ trẻ có được những thái độ đúng đắn đối với gia đình, xã hội và hiểu biết về đất nước của mình.”

Hồng Kông: HK school year starts with hunger strike

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

CNN :

HK school year starts with hunger strike

Mỗi Người Chúng Ta Là Một Chiến Sĩ Thông Tin

>> NGUỒN:

EURONEWS : China: hunger strike over plans for “patriotic” education in schools

Mỗi Người Chúng Ta Là Một Chiến Sĩ Thông Tin

>> NGUỒN:

Bún mắng cháo chửi ở Hà Nội

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Nguyễn Hưng Quốc

Gần đây, trên tờ Giáo Dục Việt Nam có một loạt bài khá thú vị về phong cách phục vụ tại một số tiệm ăn ở Hà Nội. Về đề tài này, trước, tôi đã từng viết, nhưng nay, đọc các bài thảo luận trên Giáo Dục, tôi không thể kiềm chế được sự “ngứa ngáy”, nên xin bàn tiếp.

Loạt bài do nhiều người viết. Giới nghiên cứu có; giới phóng viên có; giới độc giả cũng có. Nhiều người kể lại những kinh nghiệm cụ thể mà mình từng mắt thấy tai nghe hoặc có khi chính mình là nạn nhân của thứ văn hóa “bún mắng cháo chửi” ấy.

Một người kể: Đang đứng tần ngần chọn món để gọi, ông bị chủ quán mắng ngay: “Đứng chầu mồm à? Ăn không thì bảo?”. Ông vội vàng trả lời: “Chị cho xin một tô.” và lại bị mắng tiếp: “Tô, tô cái gì? Ra đây phải gọi là bát nhá!” Lại chịu đựng. Lại đứng tần ngần. Và lại nghe chủ quán mắng tiếp: “Vậy ông ăn bằng miệng hay ăn bằng tai? Ăn bằng miệng thì ngồi xuống. Bà kia! Xích cái đít mỡ ra một chút cho người ta ngồi.”

Một người khác, gốc Hà Nội, so sánh phong cách phục vụ trong các tiệm ăn ở Hà Nội và ở Sài Gòn:

“Trong khá nhiều lần đi công tác vào miền Nam, khi vào sử dụng dịch vụ ở các nhà hàng tại Sài Gòn, tôi nhận thấy rằng, thái độ phục vụ, dù chỉ là những anh bồi bàn thôi thì cũng đã rất dễ chịu, lịch sự, thân thiện, tôn trọng khách hàng, khác xa so với ở ngoài Hà Nội.

Ở những nhà hàng, cửa hàng ở Sài Gòn mà tôi đã từng đặt chân đến, dù là đông khách hay vắng khách thì những nhân viên ở đây vẫn tạo cho tôi cảm giác được chào đón hết sức nồng nhiệt.

Những nụ cười cùng những lời đề nghị hết sức lịch thiệp là điều mà chúng tôi luôn thấy ở các nhân viên phục vụ dù rằng phải tiếp đón một lượng khách lớn, rất mệt mỏi. Họ cũng sẵn sàng giúp đỡ, chỉ dẫn tận tình cũng như giải thích nhẹ nhàng, cặn kẽ với những gì chúng tôi còn thắc mắc, chưa hiểu.

Ðang xác minh

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Nguyễn Hưng Quốc

Những người cộng sản thường nổi tiếng về việc thích sáng chế những kiểu nói mới. Có điều, mới nhưng không hay. Có hai lý do để nói chúng không hay. Thứ nhất, những kiểu nói mới ấy rất nhanh chóng biến thành sáo ngữ vì hầu như cán bộ nào, từ trên xuống dưới, cũng đều mở miệng nói như nhau. Trong tình trạng như thế, dù có kiểu nói nào hay đến mấy, chỉ một thời gian ngắn, chúng cũng đều biến thành lảm nhảm. Thứ hai, những kiểu nói như vậy thường chỉ có một mục tiêu duy nhất là che giấu sự thật. Nên chúng rỗng. Rỗng tuếch.

Ví dụ cho những kiểu nói sáo và rỗng như vậy nhiều vô cùng. Nói về việc thất bại trong việc thực hiện một chỉ tiêu nào đó, chẳng hạn, họ sẽ nói: “đã có những thắng lợi bước đầu.” Nói về những sai lầm trong chính sách của họ, chẳng hạn, họ sẽ nói “do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, cho nên…” Cứ thế, họ lặp đi lặp lại mãi. Từ năm này sang năm khác. Lúc nào cũng là “thắng lợi bước đầu”. Lúc nào cũng là “do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan”.

Từ mấy năm nay, họ lại sáng chế ra một kiểu nói mới nữa: “đang xác minh”. Khi được hỏi về bất cứ một tệ nạn hoặc một vấn đề quan trọng và được dư luận chú ý, nhất là phẫn nộ nào, các giới chức, từ trung ương xuống địa phương, từ Thủ tướng xuống chủ tịch xã hay một cán bộ công an nào đó, câu trả lời người ta nghe nhiều nhất là: “Chúng tôi đang xác minh.”

Về xác ướp của Lenin

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Bùi Tín

Đã nhiều lần vấn đề chôn xác ướp của nhà độc tài Lenin ở Liên Xô được đưa ra bàn cãi, trên báo chí, trong quốc hội Nga, và nay là trong chính phủ, do bộ văn hóa Nga nêu lên.

Theo đài phát thanh Moscow, vừa qua bộ văn hóa Nga đã nêu lên vấn đề đã đến lúc nên đưa xác ướp của V.I. Lenin từ trong lăng ở quảng trường Đỏ ra ngoài thành phố để chôn.

Đây là một loạt động thái chính trị nối tiếp nhau sau khi Liên bang Xô viết tan rã cuối năm 1990, theo hướng thanh toán dần một thời kỳ lịch sử được đánh giá nhìn chung là tiêu cực, một chế độ độc đoán độc đảng kết hợp với quyền độc tài cá nhân đẫm máu tồn tại hơn 70 năm, từ năm 1917.

Năm 2010, tổng thống Nga Medvedev đã nói trong một bài diễn văn trước quốc hội liên bang Nga về vụ thảm sát 22 nghìn sỹ quan Ba Lan trong khu rừng Katyn do đich thân nhà độc tài Stalin chủ trương. Ông kết luận Stalin là “một kẻ sát nhân mang tội ác chống nhân loại”. Ngay sau đó nhiều di vật, vết tích tưởng niệm Stalin nơi công cộng bị xóa bỏ. Bức tượng toàn thân cuối cùng của Stalin ở ngoài trời tại quê hương ông ta là Georgia bị nhân dân địa phương kéo đổ sập.

Xác ướp của Stalin một thời đặt trong lăng cạnh xác ướp Lenin tù năm 1953 bị đưa ra khỏi lăng và đem chôn vào năm 1956, sau khi Đại hội đảng CS Liên Xô lần thứ 20 lên án tệ sùng bái cá nhân Stalin do chính ông ta chủ trương.

“Bí mật quốc gia”

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Nguyễn Hưng Quốc

Năm 1996, tôi nhận được tài trợ của Hội đồng nghệ thuật Úc (Australian Council for the Arts) để tiến hành một dự án nghiên cứu về văn học Việt Nam. Số tiền đủ để đi một chuyến bốn tuần ở Việt Nam, từ Hà Nội vào Sài Gòn thăm gia đình, bạn bè, và đặc biệt, mua thật nhiều sách.

Thời ấy, giá sách ở Việt Nam còn rẻ lắm; tính ra tiền Úc, phần lớn chỉ vài chục cent / một cuốn. Mua được bao nhiêu tôi lại đóng thùng gửi về Úc bấy nhiêu. Một số nhân viên bưu điện, để tăng thu nhập, sẵn sàng đến tận khách sạn để đóng gói, tính tiền và mang đi gửi. Mình chẳng tốn công gì cả. Vì thế tôi cứ… tranh thủ mua. Hết thùng này đến thùng khác. Tôi không đếm, nhưng chắc chắn không dưới một ngàn cuốn. Nhiều nhất là thơ và sách lý luận phê bình. Và hầu hết đều dở. Tôi đã biết trước là dở. Thơ Sóng Hồng, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy… hay sách “lý luận về văn hóa nghệ thuật” của Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng… thì hay nỗi gì chứ? Vậy mà tôi vẫn mua. Người thưởng thức chỉ cần mua và đọc những gì mình thích. Người làm công việc nghiên cứu thì khác: phải có tất cả những gì mình cần. Cái gọi là đối tượng nghiên cứu có thể là bất cứ thứ gì, kể cả đờm, dãi và phân! Huống gì là sách dở.

Trong cái đống thượng vàng hạ cám tôi mua dạo ấy, có một số tôi rất thích, ví dụ, toàn bộ các số Nhân Văn  Giai Phẩm dù tất cả đều chỉ là photocopy chứ không phải là bản gốc; tập Thơ điên (thứ thiêt) do Thái Bình Điên Quấc xuất bản năm 1970, trong đó có thơ của Bùi Giáng và Nguyễn Ngu Í; đặc biệt, ở trang đầu tiên, có lời ghi “Thay mặt bác sĩ Nguyễn Tuấn Anh, giám đốc nhà thương điên Biên Hòa, tặng anh Từ Mẫn, Lá Bối”.

Tuy nhiên, cuốn sách để lại cho tôi nhiều kỷ niệm nhất lại là cuốn Những nhiệm vụ trước mắt của công tác tư tưởng của Lê Đức Thọ. Bình thường, loại sách như thế là loại tôi cần lúc ấy. Nhưng chắc chắn nó sẽ không gây nên bất cứ ấn tượng gì nếu trên bìa không có chữ “MẬT” in thật đậm. Cầm cuốn sách, trong một tiệm sách cũ chật chội và nhếch nhác ở Hà Nội, tay tôi hơi run run. Trước đó, tôi không bao giờ nghĩ mình sẽ có được một “tài liệu mật” quý báu như vậy. Tôi vội quơ quào một đống sách khác, thật nhiều, để, với hy vọng, lúc tính tiền, người chủ tiệm sẽ không để ý đến chữ “MẬT” ấy. Mà ông chủ cũng chả thèm để ý thật. Tôi mừng húm.

Về khách sạn, lại lo chuyện gửi “tài liệu mật” ấy về Úc. Tôi bỏ thì giờ đi mua giấy về bọc cái bìa cuốn sách ấy lại để che cái chữ “MẬT” màu đỏ chình ình kia. Rồi gọi người nhân viên bưu điện quen đến khách sạn để gửi sách. Có hai người cùng đến: một người là nhân viên quèn có nhiệm vụ bỏ sách vào thùng, đóng chặt lại và cân để tính giá tiền; và một người khác chỉ đứng quan sát, cuối cùng, làm giấy tờ và nhận tiền. May, cả hai đều chẳng chú ý gì đến các cuốn sách tôi gửi. Mọi thủ tục đều được tiến hành nhanh chóng và ổn thỏa. Đến lúc họ mang sách đi, tôi mới thở phào nhẹ nhõm. Hơn một tuần sau, gọi điện thoại về nhà, tôi an tâm khi nghe nói thùng sách đã tới!

Khi về lại Úc, đến nhà, một trong những công việc tôi làm ngay trước khi nghỉ ngơi là mở thùng sách ấy, xem cái “tài liệu mật” của mình có ở đó hay không. Có. Tôi để riêng cuốn sách ấy trên một góc kệ, nơi bày những cuốn sách tôi cho là quan trọng nhất.

Mấy ngày sau, rảnh, tôi mới mang cái “tài liệu mật” ấy ra đọc. Tôi hơi ngạc nhiên khi thấy, ở trang cuối, ghi là cuốn sách ấy in đến 4000 bản. Ủa, “mật” mà in đến 4000 cuốn thì cũng không đến nỗi… mật lắm. Nhưng thôi, tôi cũng cố đọc từ đầu đến cuối. Cuốn sách khá mỏng, chỉ có 114 trang, được chia làm năm phần:

  1. Tình hình tư tưởng cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân
  2. Tình hình và nhiệm vụ cách mạng nước ta trong giai đoạn mới
  3. Nhiệm vụ công tác tư tưởng
  4. Phương hướng cải tiến công tác tư tưởng
  5. Kiện toàn cơ quan giúp cấp ủy làm công tác tư tưởng

Tôi đọc chầm chậm, thật kỹ, hơi chút phập phồng, tưởng sẽ bắt gặp được những chi tiết quan trọng và thú vị để có thể khai thác trong một bài viết nào đó liên quan đến tình hình văn học hoặc văn hóa Việt Nam. Nhưng, không. Chả thấy gì cả. Cũng vẫn những luận điểm và luận điệu chung chung. Vẫn những ý kiến tuyên tuyền cũ mèm cũ rích. Giống như vô số các cuốn sách hay bài báo khác. Lạ, may ra, chỉ có vài đoạn tự phê bình về những sai lầm trong chính sách của đảng và những thoái hóa của một số cán bộ, đảng viên. Nhưng những sự phê bình ấy, thật ra, cũng chẳng có gì lạ. Thứ nhất, ở Việt Nam, hầu như ai cũng biết. Thứ hai, chúng cũng được rào đón thật kỹ.

Nói chung, cái cuốn sách được in chữ “MẬT” ấy chả có gì là bí mật cả. Toàn những chuyện ai cũng biết.

Lúc ấy, tôi nhớ đến chuyện khác: trong hai năm, từ giữa 1979 đến giữa 1981, lúc còn là cán bộ giảng dạy ở Khoa Văn trường Đại Học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh, tôi và các đồng nghiệp cũng từng tham dự nhiều buổi học tập chính trị. Nhớ, một hai buổi đầu tiên, tôi rất căng thẳng. Khi được thông báo về buổi huấn luyện, bao giờ chúng tôi cũng được dặn dò: Không được mang theo bút hay giấy; không được ghi chép khi nghe giảng. Chỉ dỏng tai lên nghe và nhớ thôi! Lời dặn dò ấy làm không khí thêm trầm trọng. Những cán bộ giảng dạy trẻ, nhất là dân miền Nam, đến giảng đường với một bộ mặt hết sức “khẩn trương”. Nhưng càng nghe, tôi càng ngạc nhiên. Thì cũng toàn những chuyện rất ư bình thường. Cũng những khó khăn về kinh tế và xã hội của thời hậu chiến. Cũng cuộc chiến tranh “ai thắng ai” trên mặt trận tư tưởng. Cũng những âm mưu đánh phá của đế quốc phương Tây và bá quyền Trung Quốc. Rất chung chung. Và cũng rất sáo. Vậy mà, trước và sau buổi dạy, các giảng viên bao giờ cũng nhấn mạnh: “Tối mật!”

Ối giời ơi, tôi lại nhớ đến mấy chuyện tiếu lâm ở Việt Nam sau năm 1975. Khi viết bản tiểu sử trích ngang cho các “đồng chí” lãnh đạo, một đảng viên hỏi thủ trưởng:

  • Ở mục trình độ học vấn, nên viết thế nào ạ?

Thủ trưởng đáp:

  • Cứ để trống.
  • Thưa đồng chí, nhưng sao lại để trống ạ?

Thủ trưởng gắt:

  • Đồng chí không được hỏi lôi thôi! Đó là một bí mật quốc gia!

Người đảng viên ngây thơ và ngoan ngoãn ghi vào bản tiểu sử, phần “trình độ học vấn”: Bí mật quốc gia!

Thơ hay, thơ dở, cái hay của thơ dở và cái dở của thơ hay (3)(4)

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Nguyễn Hưng Quốc

Thơ hay, thơ dở, cái hay của thơ dở và cái dở của thơ hay (3)

Để đánh giá tầm vóc của một bài thơ, chúng ta phải phân tích những đóng góp của nó đối với cái mỹ học mà nó đại diện. Dựa trên đặc điểm này, tôi chia thơ thành nhiều cấp độ: lớn, hay, dở, dở – hay, và không dở không hay nhưng có ý nghĩa lịch sử.

Trước hết, xin nêu lên vài định nghĩa ngắn gọn:

1.Trong quan hệ với hệ mỹ học của thơ, những bài thơ lớn, theo tôi, là những bài thơ góp phần định hình nên cái mỹ học ấy hoặc nếu không, cũng được xem là tiêu biểu cho cái mỹ học ấy.

2.Những bài thơ hay là những bài nằm trong phạm trù mỹ học ấy nhưng có một số sáng tạo so với mặt bằng chung trước hoặc cùng thời với nó.

3.Những bài thơ dở là những bài chưa đạt đến tiêu chuẩn tối thiểu của cái mỹ học ấy.

4.Những bài thơ hay nhưng bị cộng đồng văn học xem là dở mà chúng ta đang bàn trong bài này chính là những bài nằm trên ranh giới giao thoa giữa hai hệ mỹ học: Chúng được sáng tác theo một hệ mỹ học khác, mới manh nha, còn xa lạ, thậm chí, còn bị thù nghịch trong hệ mỹ học cũ, do đó, từ hệ mỹ học cũ ấy, chúng bị xem là dở, tuy nhiên, khi hệ mỹ học mới chiến thắng, nghĩa là, ít nhất, được công nhận, chúng lại trở thành hay.

5.Và, bên cạnh các loại thơ kể trên, còn có một loại khác nữa: những bài thơ lớn nhưng không thực sự hay. Lớn vì chúng đóng vai trò động lực thúc đẩy quá trình chuyển tiếp giữa hai hệ mỹ học, từ đó, góp phần tạo nên sự thay đổi, có khi là cách mạng trong lịch sử nhưng không hay vì chúng chưa thoát hẳn khỏi hệ mỹ học cũ trong khi chưa thực nhuần nhuyễn trong hệ mỹ học mới.