Sáng kiến (hay tối kiến) chống tiêu cực trong ngành y

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Trần Vinh Dự
Gần đây trên trang VnExpress có diễn ra một cuộctranh luận thú vị. Nó bắt đầu bằng một tuyên bố của bộ trưởng Bộ y tế, bà Nguyễn Thị Kim Tiến trước Quốc hội. Bà được yêu cầu giải trình về tình trạng tiêu cực trong ngành y, cụ thể như vấn đề cán bộ y tế quát mắng bệnh nhân, không quan tâm đúng mức, không chịu chữa trị, và đòi/nhận phong bì của người nhà bệnh nhân.

Trong phần giải trình, bà Tiến kêu gọi người nhà bệnh nhân không đưa phong bì, và nếu thấy bác sĩ, điều dưỡng nào nhận phong bì thì chụp ảnh gửi cho “chúng tôi” – tức là Bộ trưởng và các cán bộ cao cấp của Bộ.

Kêu gọi này của bà Tiến bị trỉ chích vì tính giáo điều hoa mỹ mà không có giá trị thực tế. Lý do, theo nhiều người là không thể thực hiện được. Một bạn đọc viết trên VnExpress rằng:

“Nếu bác (bộ trưởng Tiến) nói như vậy thì cháu nghĩ bác chưa bao giờ đi khám bệnh bình thường. Hay có thể do bác là Bộ trưởng, đi khám bệnh thì người ta chăm lo lấy lòng bác thôi chứ không phải như người dân chúng cháu đâu”; và “Khi đưa phong bì kẹp trong hồ sơ thì bác sĩ nhanh chóng cất đi. Trong phòng khám lúc đó vắng chỉ có 2 người thì sao mà cháu chụp hình gửi được cho bác bộ trưởng? Với lại xui xẻo chẳng may bị bác sĩ biết, không chịu chữa cho ba cháu nữa thì sao?”

Kinh tế Việt Nam và Đông Nam Á: Những sắc màu sáng tối

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Trần Vinh Dự
Gần đây có nhiều quan điểm cho rằng những khó khăn mà Việt Nam đang trải qua một phần là do các biến động bất lợi của kinh tế thế giới. Điều đó đúng một phần, nhưng cũng trong bối cảnh quốc tế không thuận lợi như vậy, các nền kinh tế trong khu vực Đông Nam Á vẫn đang có những bước cải thiện và phát triển mạnh mẽ, đối lập cơ bản với tình trạng u ám hiện nay của nền kinh tế Việt Nam. Bài viết này sẽ điểm lại (một cách không hoàn chỉnh) một số mảng sáng tối trong bức tranh kinh tế Đông Nam Á mà Việt Nam là một thành viên.

Các thị trường chứng khoán

So sánh chỉ số của các thị trường chứng khoán của Việt Nam (VNINDEX) với một số chỉ số của các thị trường chứng khoán trong khu vực Đông Nam Á như Philippines (PSEI), Malaysia (KLCI), hoặc Indonesia (JCI) trong khoảng 5 năm trở lại đây có thể thấy sự đối lập cực kỳ rõ nét giữa Việt Nam và các nước còn lại này.

Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới hồi năm 2008 tác động khá giống nhau đến cả 4 nước. Cả bốn chỉ số chứng khoán đều giảm điểm mạnh mẽ, tuy với cung bậc khác nhau. Trong khi VNINDEX của Việt Nam giảm tới khoảng 75% so với mốc tham chiếu đầu năm 2008, thì PSEI và JCI của Philippines và Indonesia mất khoảng 50% trong khi KLCI của Malaysia chỉ mất chưa đến 40%.

Chủ nghĩa tư bản thân hữu

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Trần Vinh Dự
Trong khoảng hơn một tháng trở lại đây, báo chí thế giới đặc biệt chú ý nhiều đến Việt Nam, từ Business Week, the Economist, Bloomberg, Wall Street Journal, New York Times, đến Asia Sentinel, the Diplomat. Mật độ các bài viết trên báo chí nước ngoài về Việt Nam ngày càng dày đặc kể từ vụ ông Nguyễn Đức Kiên (“bầu” Kiên) bị bắt hồi tháng 8 vừa qua.

Trong một động thái có thể nói là chưa từng có, báo New York Times có liên tiếp nhiều bài viết về Việt Nam và gọi tình trạng kinh tế của Việt Nam hiện nay là “crony capitalism” (chủ nghĩa tư bản thân hữu). Trong số ra ngày 22 tháng 8 (In Vietnam, Growing Fears of an Economic Meltdown), NYT viết rằng: “nếu như cuộc khủng hoảng năm 1997 (ở Đông Á) vẫn bị cho là do “chủ nghĩa tư bản thân hữu” thì các vấn đề của Việt Nam hiện nay có thể được mô tả là chủ nghĩa tư bản thân hữu với phong vị riêng của cộng sản”. Phong vị riêng, theo NYT là “các công ty của nhà nước đông nghẹt những bạn bè và đồng minh của các quan chức trong hệ thống quyền lực của Đảng Cộng Sản”.

Trong số ra ngày 1 tháng 9 (In Vietnam, Message of Equality Is Challenged by Widening Wealth Gap), NYT lại viết: “sự giận dữ tập trung chủ yếu vào phiên bản Việt Nam của chủ nghĩa tư bản thân hữu – mối quan hệ chặt chẽ giữa các đại gia và các quan chức cao cấp của Đảng Cộng Sản. Sự phê phán/lên án này được dịp bùng lên vì các tin tức liên quan đến việc lợi dụng (quyền hạn) đã bị lộ ra từ các công ty của nhà nước – vốn vẫn là phần trung tâm của nền kinh tế, nhưng gần đây đã bị trục chặc lớn, và góp phần tạo ra tình trạng khủng hoảng tài chính rất trầm trọng hiện nay”.

Có lẽ trong lịch sử Việt Nam hiện đại, chưa một lần nào Việt Nam được mô tả là một nền kinh tế theo kiểu “chủ nghĩa tư bản thân hữu”. Bản chất của khái niệm này là gì, sự “kết án” của NYT nghiêm trọng đến thế nào, và vai trò của “chủ nghĩa tư bản thân hữu” trong cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông và Đông Nam Á hồi năm 1997 như thế nào?…sẽ là chủ đề của bài viết nhiều kỳ này.

Chủ nghĩa tư bản thân hữu

“Chủ nghĩa tư bản thân hữu” là một khái niệm không được định nghĩa với nội hàm rõ ràng. Nó thường được dùng để chỉ các nền kinh tế mà trong đó hệ thống doanh nghiệp có những mối quan hệ mang tính cấu kết với các quan chức trong hệ thống nhà nước, qua đó tạo thành các mạng lưới “thân hữu” (những người bạn thân) giữa hai giới doanh nhân và quan chức. Theo một nghiên cứu của Surajit Mazumdar (CRONY CAPITALISM: Caricature or Category?) Mối quan hệ “thân hữu” này dẫn tới hai hệ luỵ hiển nhiên:

Quan hệ Mỹ-Trung: Môi hở răng lạnh?

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Trần Vinh Dự
Quan hệ Mỹ-Trung có thể được tóm tắt bằng hai chữ “cần” và “ghét”. Mỹ và Trung Quốc cần nhau về mọi mặt, từ kinh tế – thương mại tới chính trị, nhưng Mỹ và Trung Quốc cũng luôn hậm hực với nhau, tranh giành ảnh hưởng trên thế giới với tư cách là hai siêu cường có đường lối phát triển và đối ngoại khác hẳn nhau. Hai vế “cần” và “ghét” này tùy từng thời điểm và vấn đề cụ thể mà biến báo, có lúc vế này lấn át vế kia. Tuy nhiên, về toàn cục, trong khoảng 30 năm qua, kể từ khi Trung Quốc đổi mới, thì vế “ghét” chưa bao giờ bùng phát mạnh tới mức hai nước trở thành thù địch, vì thế quan hệ giữa hai nước vẫn được đặc chưng bởi vế “cần”. Và điều này sẽ còn tiếp diễn trong trung hạn, tức là khoảng 5 tới 10 năm nữa, trừ khi có những chuyển biến mạnh mẽ về chính trị nội bộ của Trung Quốc và biến nước này trở nên cực đoan mù quáng.

“Cặp đôi hoàn hảo” về kinh tế, tài chính, và thương mại

Trong quan hệ kinh tế và thương mại, Trung Quốc và Mỹ hiện là hai đối tác quan trọng bậc nhất của nhau. Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba của Mỹ (sau Canada và Mexico, 2 quốc gia láng giềng) và có tăng trưởng nhanh nhất trong giai đoạn 2001-2011 (471%). Tổng giá trị xuất khẩu năm 2011 từ Mỹ sang Trung Quốc đạt 103.9 tỷ USD.

Theo chiều ngược lại, Mỹ đang cần một lượng lớn hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc. Trong năm 2011, tổng giá trị nhập khẩu đạt 399.3 tỷ USD, tăng 9.4% so với năm 2010. Trong tổng giá trị nhập khẩu của Mỹ, hàng hóa và dịch vụ từ Trung Quốc chiếm 18.1% năm 2011, giảm nhẹ từ 19.1% năm 2010 và tăng đáng kể so với 8.2% năm 2009. Tỷ trọng các sản phẩm công nghệ cao cũng đã tăng trưởng nhanh đáng kể.

Mua bán doanh nghiệp – sao gọi là ‘thôn tính’?

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Trần Vinh Dự
(phần 1)

Cùng với việc kinh tế rơi vào khủng hoảng, doanh nghiệp gặp khó, các hoạt động mua bán sáp nhập doanh nghiệp (M&As) đang dần trở nên ngày càng sôi động. Hoạt động M&As đang tạo thành các làn sóng, từ lĩnh vực tài chính – ngân hàng sang bất động sản, xây dựng, và nhiều ngành sản xuất khác, kể cả hàng tiêu dùng và hàng tiêu dùng nhanh (FMCG).

Trong khi ở nhiều nơi M&As được coi là một hoạt động bình thường của kinh tế thị trường và được mô tả bởi những cụm từ trung dung như “buyout” (mua kiểm soát) hay “takeover” (nắm quyền chi phối)… thì ở Việt Nam hoạt động này lại thường được mô tả bằng những cụm từ rất không mấy thân thiện như “thôn tính” hay “thâu tóm”.

Điều này nhìn bề ngoài thì có vẻ như chỉ là một thói quen sử dụng ngôn ngữ. Nhưng ẩn bên trong, nó phức tạp hơn thế. Từ chỗ bị nhìn nhận thiếu thân thiện, việc đi mua lại doanh nghiệp nhiều khi dễ bị dư luận quy chụp là sai trái, thậm chí cực đoan hơn một số hành vi thâu tóm còn được ví như một loại tội phạm.

Điều này đặc biệt trở nên nghiêm trọng trong những ngày gần đây từ sự việc ông Nguyễn Đức Kiên bị bắt và thủ tướng Chính phủ yêu cầu sử lý nghiêm tội phạm thâu tóm ngân hàng.

Khi nào đi mua doanh nghiệp?

Mua một doanh nghiệp thực chất là một hoạt động đầu tư, có thể của một cá nhân, một nhóm cá nhân, hoặc một doanh nghiệp khác. Cũng giống như bất kỳ một dạng đầu tư nào khác, mục đích của nó là sinh lợi: bỏ tiền ra vào thời điểm này với hi vọng thu lại lợi tức cao trong tương lai.

Mua một công ty khác xa với mua một tấm trái phiếu của chính phủ, mua vàng, hay gửi tiền trong tài khoản ngân hàng. Khác biệt đó nằm ở hai chữ “rủi ro”. Lý do là dù có tìm hiểu cách nào thì nhà đầu tư cũng không thể nắm bắt hết được thực trạng của công ty họ dự kiến mua. Và vì thế, hầu như trong bất cứ thương vụ nào cũng xảy ra chuyện sau khi mua mới phát hiện ra những bê bối được dấu kín mà tiếng Anh gọi là “skeleton in the closet” (bộ xương trong tủ áo) – vấn đề chỉ là mức độ nghiêm trọng của các bê bối này nhiều hay ít mà thôi.
Vì bản chất của loại đầu tư này là rủi ro, lợi nhuận kỳ vọng phải đủ cao để thương vụ trở nên hấp dẫn tới mức nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận được rủi ro và bỏ tiền ra mua. Do đó không lạ là khi mua một doanh nghiệp thì lợi nhuận kỳ vọng mà nhà đầu tư dự kiến phải rất cao. Càng là thị trường mới nổi, càng là những nơi các biến động chính sách và kinh tế vĩ mô cao và luật pháp lỏng lẻo, thì lợi nhuận kỳ vọng càng phải cao.

Nợ xấu và mùa đông của suy thoái (phần 1)

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Trần Vinh Dự

Xét về mặt vĩ mô, Việt Nam đã tạm thời vượt qua giai đoạn nguy cấp nhất, khi hệ thống ngân hàng có nguy cơ đổ vỡ hàng loạt.

Lãi suất liên ngân hàng là một chỉ dấu quan trọng của hệ thống. Tại thời điểm cuối quý 3, đầu quý 4 năm ngoái, lãi suất liên ngân hàng lên rất cao, có thời điểm tới hơn 40%. Đó là dấu hiệu của tình trạng mất thanh khoản nghiêm trọng tới mức có thể phá sản bất kỳ lúc nào của nhiều ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng nhỏ.

Từ đầu năm trở lại đây, lãi suất liên ngân hàng đã giảm nhiều, hiện nay đã nằm ở mức một con số. Điều đó cho thấy mặc dù còn một số ngân hàng nhỏ vẫn trong vùng nguy hiểm, nhưng câu chuyện đổ vỡ hàng loạt có vẻ như đã được tạm thời loại bỏ.

Từ chỗ chênh vênh bên miệng núi lửa của khủng hoảng tài chính hồi nửa cuối năm ngoái, kinh tế Việt Nam đang đi dần vào một mùa đông lạnh giá của suy thoái toàn diện.

Mùa đông của suy thoái

Lạm phát đã hạ nhiệt, tốc độ tăng giá tiêu dùng trong 6 tháng qua chỉ có 2.52% so với mức tăng 13.33% của 6 tháng đầu năm 2011 và 3.37% của 6 tháng đầu năm 2010. Điều này không lạ vì giữa tăng trưởng tín dụng và lạm phát có quan hệ nhân quả rất chặt chẽ với độ trễ khoảng 6 tới 8 tháng. Việc lạm phát thấp tại thời điểm này là kết quả của việc thắt chặt tiền tệ – tín dụng từ khoảng tháng 4 tới tháng 12 năm ngoái.

Lãi suất ngân hàng nhờ các quyết định hành chính liên tục kế tiếp nhau của Ngân hàng Nhà nước đã giảm về mức thấp đáng kể so với năm ngoái. Lãi suất huy động không kỳ hạn về còn 9% trong khi lãi suất huy động có kỳ hạn nằm ở mức 12% – 13% và lãi suất cho vay chính thức giảm còn khoảng 15% – 17%.

Do lãi suất tiền Đồng trong suốt năm 2011 và 6 tháng đầu năm 2012 rất cao so với tốc độ trượt giá đồng tiền và việc nhà nước siết chặt quản lý kinh doanh ngoại hối ngoài luồng, sức ép về tỷ giá lên VND trong giai đoạn vừa qua không lớn. Tiền Đồng cơ bản giữ được giá trị sau đợt phá giá mạnh hồi tháng 2 năm ngoái.

Sự ổn định này phần nhiều mang tính tình huống và giả tạo. Lạm phát sẽ lại bùng phát trở lại một khi tín dụng tăng trở lại giống như kịch bản hồi năm 2010: Năm 2008 gặp lạm phát cao tương tự năm 2011. Năm 2009 lạm phát giảm do hiệu ứng độ trễ của chính sách thắt chặt vào cuối năm 2008, giống như những gì đang diễn ra hiện nay. Năm 2010 lạm phát vụt lên trở lại ở mức hai con số sau khi chính sách tiền tệ – tín dụng được nới lỏng một phần.

Lãi suất giảm trong thời gian qua phần nhiều là do các biện pháp hành chính. Trên thực tế, lạm phát đã giảm rất mạnh và Ngân hàng Nhà nước đã bơm khá nhiều tiền vào hệ thống ngân hàng thương mại và dư địa tín dụng được mở toang từ đầu năm nhưng hệ thống ngân hàng thương mại (mất thanh khỏa mạnh và nợ xấu trên 10%) vẫn phải cạnh tranh quyết liệt để dành dật nguồn tiền gửi. Vì thế lãi suất huy động vẫn cao hơn rất nhiều so với lạm phát.

Câu chuyện tranh cãi về lãi suất thực dương hay âm, sau hơn 1 năm, vẫn đối mặt với câu trả lời từ thực tế là lãi suất thực vẫn còn dương, và dương rất nhiều. CPI tháng 5 và tháng 6 vừa qua so với cùng kỳ năm ngoái lần lượt là 8.34%  và 6.9% trong khi lãi suất huy động trung bình vẫn còn ở mức hai con số. Điều này dẫn tới chuyện lãi suất cho vay có giảm nhưng còn xa mới nằm trong sức chịu đựng hợp lý của hệ thống doanh nghiệp.

Tái cơ cấu kinh tế – nghiêm túc hay không?

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Trần Vinh Dự
Tái cấu trúc kinh tế là câu chuyện được nhắc đến nhiều từ khoảng 4 năm trở lại đây và hiện nay đã trở thành một trọng tâm về chính sách kinh tế của nhà nước.


Tái cấu trúc kinh tế là câu chuyện được nhắc đến nhiều từ khoảng 4 năm trở lại đây và hiện nay đã trở thành một trọng tâm về chính sách kinh tế của nhà nước.

Đề án dài 45 trang viết mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 17 tháng 4 vừa qua có vai trò là một kế hoạch tổng thể của Chính phủ nhằm tái cấu trúc về cơ bản nền kinh tế với mục tiêu giải quyết dứt điểm các khó khăn trong ngắn hạn và đặt nền móng bền vững cho sự phát triển trong trung và dài hạn.

Đáng tiếc là đề án này có vẻ như là một sản phẩm thiếu nghiêm túc và ngay từ đầu đã có cách tiếp cận không đúng.

Thiếu nghiêm túc ở chỗ những người đọc đề án này không khỏi có cảm giác rằng nó là một sản phẩm chắp vá, lắp ghép từ nhiều bài viết cũ và sự lắp ghép này là rất vụng về. Trong một bài trả lời phỏng vấn gần đây, Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh của trường Fulbright cũng cho rằng “đề án này được tổng hợp từ các đề án bộ phận, mà các đề án bộ phận đều được thực hiện khá vội vàng, trước sức ép cấp bách phải hành động của Chính phủ”. Theo Tiến sĩ Tự Anh, Chính phủ yêu cầu bốn đơn vị, bao gồm Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hang Nhà nước, và Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển Doanh nghiệp Nhà nước chuẩn bị ba đề án chỉ trong vòng hai tháng.

Hai tháng tuy không phải là thời gian dài, nhưng cũng không phải quá ngắn.Thế nhưng sản phẩm được công bố lại là một báo cáo có quá nhiều lỗi ngữ pháp và văn phạm, ngay cả tên một số đề mục cũng viết sai. Có vẻ như báo cáo này được chuẩn bị không tuân theo bất cứ một chuẩn mực văn phạm tối thiểu nào.

Cấu trúc của đề án rất lủng củng và nhiều phần hầu như không ăn nhập gì với nhau.Phần nói về thực trạng, bao gồm cả các yếu kém, viết khá dài, nhưng phần nguyên nhân của các yếu kém này lại chưa tới một trang giấy.Một đề án nhằm tái cơ cấu toàn bộ nền kinh tế nhưng không dựa trên việc phân tích thấu đáo các nguyên nhân dẫn đến việc phải tái cơ cấu thì cũng sẽ không thể đưa ra được các giải pháp thấu đáo để loại bỏ các nguyên nhân này.

Có quá nhiều tầng, nấc khác nhau khiến người đọc không khỏi có cảm giác những người soạn báo cáo không nắm vững vấn đề và vì thế trình bày một cách hết sức lan man. Riêng phần nói về tái cơ cấu (“TCC”), có hàng loạt các “layers” như mục tiêu của TCC, quan điểm chỉ đạo TCC, nội dung của TCC, định hướng của TCC, điều kiện tiền đề của TCC, và giải pháp để TCC.

Trong khi đó, về thực chất, báo cáo này đáng lẽ ra phải có một phần phân tích thật sâu các nguyên nhân dẫn tới các yếu kém nội tại. Từ đó, đề ra các nội dung chính cần phải tái cơ cấu, và các giải pháp cụ thể để triển khai các nội dung này.

Về nội dung của chương trình tái cơ cấu, báo cáo này đưa ra 5 nội dung, trong đó chủ yếu là 3 nội dung đã được Trung Ương Đảng và Chính phủ đưa ra từ năm ngoái. Năm nội dung tái cơ cấu hướng vào (1) các tổ chức tín dụng (chủ yếu là các ngân hàng thương mại), (2) thị trường chứng khoán và các định chế tài chính, (3) hệ thống doanh nghiệp nhà nước, (4) đầu tư (chủ yếu là đầu tư công), và (5) kinh tế ngành và kinh tế vùng.

Để thực hiện 5 nội dung này, báo cáo đưa ra tới 13 giải pháp, phần lớn là rất lan man và không tập trung vào các nội dung tái cơ cấu ở trên. Có vẻ như đây là hai phần viết của hai tác giả hoàn toàn khác nhau và không hề phối hợp làm việc với nhau để có một sản phẩm ăn khớp. Thí dụ, không hề có một giải pháp cụ thể nào được đưa ra cho nội dung tái cơ cấu (1) và (2) ngoài 1 dòng nhắc đến quyết định 254/2012-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Chỉ có 3 giải pháp trực tiếp liên quan đến 3 nội dung còn lại của chương trình tái cơ cấu.Những giải pháp còn lại đều là các giải pháp gián tiếp đưa ra cho có.

Việt Nam cần có nhiều vụ phá sản hơn

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Trần Vinh Dự
Kinh tế Việt Nam đang trải qua một giai đoạn đặc biệt khó khăn. Tại cuộc họp báo thường kỳ của Chính phủ đầu tháng 4 vừa qua, trong Quý 1 đã có hơn 2200 doanh nghiệp làm thủ tục giải thể, hơn 9700 doanh nghiệp đăng ký ngừng hoạt động có thời hạn hoặc dừng nghĩa vụ thuế. Trong khi đó số thành lập mới là 15300 doanh nghiệp.

Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trước đây mỗi Năm Việt Nam có khoảng 5000 tới 7000 doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể, hoặc phá sản. Tới năm 2011, số doanh nghiệp rơi vào tình trạng này lên tới 10000 doanh nghiệp mỗi Quý.

Số lượng doanh nghiệp rơi vào tình trạng ngừng hoạt động nhiều như vậy nhưng số doanh nghiệp thực tế đệ đơn xin phá sản chỉ đếm trên đầu ngón tay. Số liệu từ Tòa Kinh tế TPHCM cho thấy cả năm 2011 chỉ thụ lý 11 vụ phá sản doanh nghiệp; trong khi chỉ hai tháng đầu năm 2012 Cục Thuế TPHCM công bố có đến trên 3.100 doanh nghiệp ngừng hoạt động.

Câu hỏi là tại sao lại có ít vụ phá sản như thế ở Việt Nam?

Được chia mất tự chịu

Đứng về góc độ kinh tế, hình thức doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn, và sau này là cổ phần, cùng với luật về phá sản là một sáng tạo độc đáo của loài người. Nó tạo ra một sân chơi mới rộng lớn và an toàn để tất cả mọi người có thể tham gia làm giàu cho mình và cho xã hội mà không phải lo mất trắng.

Mỗi cá nhân khi bước chân vào thị trường lao động thường có hai lựa chọn – hoặc là đi làm cho người khác để hưởng lương, hoặc trở thành một doanh nhân. Người ta chỉ chọn trở thành doanh nhân khi họ cho rằng thu nhập kỳ vọng từ công việc này cao hơn. Thu nhập kỳ vọng này bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố về thị trường, khả năng của doanh nhân về ý tưởng, sản phẩm, năng lực triển khai, tài chính…, và các chính sách của nhà nước.

Trong trường hợp một doanh nhân thành công, thì không chỉ có doanh nhân này được hưởng lợi. Nhà nước và xã hội được lợi thông qua thu thuế. Người lao động được hưởng lợi thông qua việc có công ăn việc làm. Người tiêu dùng được hưởng lợi vì có sự lựa chọn sản phẩm hoặc dịch vụ đa dạng hơn. Thế nhưng khi một doanh nhân thất bại, nếu không có hình thức trách nhiệm hữu hạn và luật về phá sản, thì toàn bộ rủi ro từ hoạt động kinh doanh sẽ rơi xuống đầu doanh nhân đó. Nói các khác, rủi ro thì hưởng trọn, mà lợi ích thì phải chia ra.

Trong những trường hợp như vậy, số lượng người dám “liều” làm kinh doanh sẽ ít hơn mức tối ưu cho xã hội. Trên thực tế, phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ thất bại sau một thời gian ngắn. Theo Cơ quan Quản lý Doanh nghiệp Nhỏ Hoa Kỳ (SBA), hơn 50% các doanh nghiệp mới thành lập sẽ biến mất trong vòng 5 năm. Một nghiên cứu khác của tạp chí Inc. và Hiệp hội Hỗ trợ Doanh nghiệp Quốc gia (National Business Incubator Association) cho thấy hơn 80% doanh nghiệp sẽ thất bại trong vòng 5 năm kể từ ngày thành lập. Thống kê ở New Zealand cũng cho thấy 53% số doanh nghiệp mới thành lập sẽ thất bại trong vòng 3 năm.

Đối xử với bất đồng: Câu chuyện ở Ô Khảm và Tiên Lãng

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Trần Vinh Dự
Ô Khảm (Wukan) là một làng ở tỉnh Quảng Đông với dân số khoảng 12 nghìn tới 20 nghìn người, theo nhiều nguồn tin. Gần đây, Wukan trở nên nổi tiếng trên khắp thế giới vì cuộc nổi dậy của người địa phương chống lại chính quyền.

Ông Lâm Tổ Loan (Lin Zuluan), một trong những người lãnh đạo cuộc phản kháng ở Ô Khảm, được bầu làm Chủ tịch xã Ô Khảm ở tỉnh Quảng Đông thuộc miền nam Trung Quốc

Cũng giống như nhiều địa phương khác ở Trung Quốc, Wukan bị ảnh hưởng bởi việc chính quyền địa phương dựa chủ yếu vào bán đất để tạo nguồn thu cho ngân sách. Hoạt động bán đất này thường được mô tả là thu đất hoặc cướp đất vì chính quyền thường đền bù cho nông dân với mức phí rất hình thức sau đó bán cho các nhà phát triển bất động sản với giá nhiều khi lên tới 50 lần giá đền bù. Đây là một trong những lý do chính khiến trung bình trong những năm vừa rồi có tới hơn 90 nghìn cuộc đấu tranh của người dân, riêng năm 2010 lên tới 180 nghìn cuộc.

Người dân ở Wukan cho rằng quan chức địa phương đã bán đất nông nghiệp cho các nhà phát triển bất động sản khiến họ không còn đất canh tác và mất kế sinh nhai. Nhiều người còn cho rằng họ không hề biết gì về việc bán chác này cho đến khi máy móc được kéo đến đề xây dựng.

Trung Quốc và chủ nghĩa dân tộc kiểu mới

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Trần Vinh Dự
“Trung Quốc không hạnh phúc” (Unhappy China) là một trong những cuốn sách bán chạy nhất trong năm 2009 ở Đại Lục. Cuốn sách này là một tuyển tập các bài viết của những người theo chủ nghĩa dân tộc cực hữu ở Trung Quốc về cách nhìn của họ đối với đất nước này. Được xuất bản vào tháng 3, 2009, cuốn sách này nhanh chóng thu hút được sự chú ý của cả người Trung Quốc và phương Tây.

Các bài viết trong “Trung Quốc không hạnh phúc” đều cổ vũ cho thái độ cứng rắn đối với các kẻ thù của Trung Quốc, bao gồm cả tổng thống Pháp Nicholas Sarkozy vì ông này đã gặp Dalai Lama hồi năm 2008. Cuốn sách cũng rất mạnh mẽ về thái độ của phương Tây đối trước sự đối xử của Trung Quốc với người Tây Tạng trước Olympic Bắc Kinh 2008. Một phần trong cuốn sách thậm chí viết “hãy khiêu chiến đi nếu tụi bay có bản lĩnh, còn nếu không thì câm mồm lại”[i].

Người Trung Quốc không hạnh phúc

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Trần Vinh Dự
Gần đây tôi đang tham gia viết một cuốn sách về Biển Đông và các vấn đề liên quan có tên “Lòng Biển”. Dự kiến sách sẽ được xuất bản ở Việt Nam. Nội dung của sách cơ bản đã được các tác giả chuẩn bị xong, chỉ còn chờ giấy phép và việc in ấn cuối cùng. Lòng Biển sẽ là nơi quy tụ của nhiều cây viết quen thuộc liên quan đến chủ đề Biển Đông, Trường Sa, và Hoàng Sa. Sách cũng sẽ có sự đóng góp của một số tên tuổi lớn nhất trong làng học giả Việt Nam trên khắp thế giới.

Trong những ngày tới tôi sẽ giới thiệu một phần nhỏ những nội dung mà tôi viết trong cuốn sách này để quảng bá cho cuốn sách. Kính mời quý bạn đọc theo dõi và nếu quan tâm thì có thể đặt mua khi sách đã xuất bản.

Một cuộc điều tra gần đây do Đại học Tsinghua và tạp chí Xiaokang hồi tháng 10 cho thấy 40% dân số Trung Quốc không hạnh phúc với cuộc sống của mình[i]. Một cuộc điều tra khác của tạp chí Outlook và Đại học Peoples cho thấy 70% nông dân Trung Quốc không hài lòng, chủ yếu vì vấn đề nhà nước lấy đất để làm dự án. Trong khi đó, tạp chí Hurun Report và Bank of China lại cùng thực hiện một cuộc thăm dò và kết quả là khoảng 60% số người giàu và siêu giàu ở Trung Quốc đang chuyển ra nước ngoài sinh sống hoặc đang dự định làm việc này[ii]. Nhân dân Nhật báo gần đây cũng cảnh báo rằng đang có một cuộc khủng hoảng lòng tin đối với nhà nước.

Cơn sốt Myanmar

Mục Yêu thich nhiều: > Video Học tiếng, > Video Thế giới, > Video Việt nam, > Video Thư giãn, > Video Thể thao, > Video Thần Tượng, > CANNES FILM FESTIVAL

Trần Vinh Dự

Myanmar đang trải qua một cơn sốt kể từ sau chuyến đi của Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, bà Hilary Clinton, hồi cuối tháng 11 năm 2011. Trong khi bà Clinton được người dân nước này chào đón như sự viếng thăm của một nữ thần thì chuyến viếng thăm cao cấp nhất của Mỹ tới đất nước này kể từ 50 năm trở lại đây đã làm bừng tình giới đầu tư quốc tế.
Lượng khách quốc tế đến Myanmar đột ngột tăng vọt. Vé máy bay tới Myanmar ngày càng khó mua. Các khách sạn lớn ở thủ đô cũ Yangon lúc nào cũng gần như kín chỗ và giá phòng bị đẩy lên nhiều lần so với trước. Ở Strand Hotel, một khách sạn hạng sang ở thành phố này, giá phỏng rẻ mạt nhất cũng đã lên tới 660 USD/đêm – mức giá rất cao tính theo bất cứ tiêu chuẩn nào.